Thursday, January 8, 2015

Sau 39 Năm, Nhìn lại


Dĩ nhiên nếu bạn nào thực sự bước vào máu lửa thì bài viết này chẳng có gì đặc biệt . Nhưng với các bạn chưa biết gì ( vì một may mắn hay một đưa đẩy nào đó và cũng có thể vì quyền lực của cha mẹ, thân nhân..hay vẫn còn trong các quân trường  nên  đã đứng ngoài cuộc chiến) thì đây là bài viết cho những ai muốn biết về người lính đúng nghĩa trong thời chiến , hào hùng trong gian khổ , tử thần luôn cận kề bên cạnh  . Danh dự , Tổ quốc , Trách nhiệm luôn mang nặng trên vai . Hãy thắp một nén hương lòng cho những chiến sĩ Vị Quốc Vong Thân .
TCB.

Xưa nay chiến địa nhường bao
Nội không muôn dặm, xiết bao giãi dầu
(Cung Oán Ngâm Khúc).

Sau 39 Năm, Nhìn lại
 
 
Bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên của tác giả là “Một Chặng Đường”, tự sự về hành trình của một HO, đã được phổ biến ngày 17 tháng Mười, 2014. Tác giả sinh năm 1952, dân Sài gòn, cựu sinh viên Văn Khoa, cựu Sĩ quan Quân đội Miền Nam, một trung đội trưởng tác chiến. Hồi cuối cuộc chiến, chàng là một thương binh và buổi sáng ngày 1 tháng Năm 1975, bị đuổi ra khỏi quân y viện...

Bài viết mới của tác giả không kể chuyện xảy ra trên đất Mỹ, nhưng là một hồi ức sống thực về cuộc chiến còn trong tâm tưởng biết bao người ở Mỹ.
* * *
Anh ạ! tháng tư mềm nắng lụa
Hoa táo hoa lê nở trắng vườn
Quê nhà thăm thẳm sau trùng núi
Em mở lòng xem lại vết thương

Anh ạ! tháng tư sương mỏng lắm
Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê
Hay sương thành lệ tra vào mắt
Mờ khuất trong em mọi nẻo về.

Đọc bài thơ này của Nhà thơ Trần Mộng Tú, trong lòng tôi chợt cảm thấy bàng hoàng. Đã bao lần tháng Tư trôi qua, bao nhiêu nước đã qua cầu, nhưng vết thương trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ, tôi nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ lành cho tới ngày tôi nhắm mắt.

Thời ấy, đám sĩ quan trẻ chúng tôi chỉ mới ngoài 20, đến nay đầu đã chớm bạc, "cùng một lứa, bên trời lận đận", sau cơn Đại hồng thủy tháng tư năm 1975, lũ chúng tôi tản mác khắp bốn phương trời: "... thằng thì đang còng lưng trong các shop may tại Santa Ana, thằng đang làm bồi bàn ở Paris, thằng đang chăn cừu ở New Zealand, có thằng đang cắt cỏ ở Texas, và cũng có thằng đang đạp xích lô ở Sài Gòn..." (trích). Mỗi năm đến ngày 30-4, tất cả chúng tôi đều bần thần ngơ ngác như kẻ mất hồn. Không còn ai trách cứ chúng tôi hết, chỉ có chúng tôi tự trách mình. Chúng tôi đã làm gì cho Tổ Quốc?

Trước năm 1975, tôi là người lính trong Quân đội Miền Nam, với cấp bậc Sĩ quan thấp nhất là Thiếu úy, với chức vụ nhỏ nhất là Trung đội trưởng. Ngoài số lương đủ sống mà tôi được lãnh hàng tháng, tôi không hề nhận được bất cứ bổng lộc nào từ phía "triều đình". Tôi chỉ là một người lính vô danh tầm thường như trăm ngàn người lính khác, ngoài cuộc sống cực kỳ gian khổ và hiểm nguy, chúng tôi không có gì hết, kể cả hạnh phúc riêng tư của chính mình. Cho nên tôi không hề có mơ tưởng nào về một hào quang của ngày tháng cũ.

Khi nhìn lại mình, tôi viết như thắp một nén hương tưởng niệm, những đồng đội của tôi đã nằm xuống cho tôi được sống, rộng lớn hơn hàng trăm ngàn người đã chết để chúng ta có cuộc sống ngày hôm nay, tại hải ngoại này.

Mùa Hè năm 1972, người Miền Nam thủa ấy gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, mượn cái tên từ tập bút ký chiến trường rất nổi tiếng cùa Nhà văn Phan Nhật Nam. Mùa hè đỏ lửa năm 72, là năm quân đội của hai miền Nam Bắc dốc sức đánh một trận chiến sanh tử, bên nào kiệt lực bên đó sẽ bại vong.

Niên khóa năm 71-72, tôi là sinh viên Đại học Văn Khoa Sai Gòn, năm đó tôi đi học trong một tâm trạng bồn chồn không sao tả được, và tôi cũng không còn tâm trí đâu để mà học hành. Tin tức chiến sự từ các mặt trận dồn dập gửi về, lúc đó bạn bè lính tráng của tôi, lớp chết lớp bị thương, lũ lượt kéo nhau về. Sau này ngẫm nghĩ lại, tôi thấy Miền Nam lúc đó không còn sinh khí nữa.

Chính quyền Miền Nam sau đó ra lịnh Tổng Động Viên, tất cả nam sinh viên đều phải nhập ngũ, trừ một số trường hợp đặc biệt.

Giã từ Văn Khoa với đại giảng đường 2 bát ngát, giã từ những bài giảng rất lôi cuốn của Linh Mục Thanh Lãng, của Giáo sư Nguyễn Thế Anh... giã từ hết những ước vọng của thời mới lớn, tôi trình diện Khóa 4/72 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Năm đó quân trường Thủ Đức chứa không xuể các thanh niên nhập ngũ, nên đã đưa một số sinh viên ra thụ huấn tại Trường Đồng Đế Nha Trang, toàn bộ tinh hoa của tuổi trẻ miền Nam đã tập trung vào hai quân trường này. Miền Nam đã vét cạn tài nguyên nhân lực để đưa vào cuộc chiến.

Vào quân trường, khóa 4/72 toàn là sinh viên các trường Đại học tụ về, chúng tôi cùng làng xàng tuổi nhau nên đùa vui như Tết. Tuổi trẻ mà, lúc nào cũng vui cũng phơi phới yêu đời, chuyện ngày mai đã có trời tính. Thời gian 6 tháng quân trường gian khổ sao kể xiết, bởi vì huấn luyện nhằm biến đổi một con người dân sự, thành một người lính thật thụ là điều không đơn giản. Không phải chỉ có các kiến thức về quân sự, mà còn tạo dựng nên một cơ thể gan thép, rèn luyện gian khổ bất kể ngày đêm, bất kể nắng nóng nung người hay mưa dầm bão táp.

Trong 5 tuần lễ đầu tiên bước vào trường, gọi là giai đoạn huấn nhục, đây là giai đoạn kinh hãi nhất trong đời lính mới của chúng tôi. Hằng ngày chúng tôi phải tuân phục sự chỉ huy điều động của các Huynh trưởng khóa đàn anh, khi ra lịnh họ hét lên nghe kinh hồn bạt vía, họ nghĩ ra đủ loại hình phạt để phạt chúng tôi bò lê bò càng, trong giai đoạn này chỉ có chạy, không được đi... các Huynh trưởng quần chúng tôi từ sáng sớm đến chiều tối, buông ra là chúng tôi ngất lịm, ngủ vùi không còn biết gì nữa hết. Sau 5 tuần Huấn nhục, ai vượt qua được sẽ tham dự Lễ gắn Alpha, chính thức trở thành Sinh viên Sĩ quan.

Ngày quì xuống Vũ đình trường, để nhận cái lon Alpha vào vai áo, chúng tôi cảm thấy rất tự hào, vì đã lập được một kỳ công, đã tự chiến thắng mình để trở thành một người lính đúng nghĩa, không còn hèn yếu bạc nhược như xưa nữa. Khi chúng tôi quá quen thuộc với các bãi tập như: bãi Cây Đa, đồi 30, bãi Nhà xập, đồi Bác sĩ Tín... cũng là lúc sắp đến ngày ra trường. Gần tới cuối khóa, chúng tôi còn phải vượt qua những bài học cam go như bài Đại đội Vượt sông, Đại đội Tùng thiết, Đại đội Di hành dã trại....

Cuối cùng, điều mà chúng tôi monh đợi từ lâu, đó là ngày Lễ ra Trường. Tất cả trong quân phục đại lễ, xếp hàng ngay ngắn tại Vũ Đình Trường. Rồi một tiếng thét lồng lộng của Sinh viên sĩ quan chỉ huy buổi lễ:" Quì xuống các Sinh viên sĩ quan" Chúng tôi đọc lời tuyên thệ: Danh dự, Tổ quốc, Trách nhiệm. Sau đó được gắn lon Chuẩn úy lên cầu vai. Tiếng thét lồng lộng lại cất lên:

"Đứng lên các Tân Sĩ Quan". Trong số chúng tôi, có người ứa nước mắt, cái lon mới được gắn lên vai, đã được đánh đổi bởi biết bao mồ hôi gian khổ.

Ngày hôm sau, chúng tôi tụ họp lên Hội trường để chọn đơn vị. Tới phiên tôi được xướng danh lên bảng chọn, có một chuyện làm tôi nhớ mãi. Đứng trước tấm bảng phân chia về các đơn vị, tôi định chọn về Sư đoàn 7 cho gần Sài Gòn, bỗng cái ông Thượng sĩ đứng phụ trách tấm bảng, bèn đưa ra lời bàn:" Chuẩn úy nên chọn về Sư đoàn 9 vì có vùng trách nhiệm nhẹ hơn, Sư đoàn 7 trách nhiệm vùng Cai Lậy- Cái Bè rất nặng nề". Oái oăm thay, ngày lội hành quân của tôi lại là vùng Cái Bè, vì đơn vị tôi tăng phái cho Sư đoàn 7.

Tôi trình diện Bộ Tư Lịnh Sư đoàn 9 tại Vĩnh Long, được phân bổ về Trung đoàn 14, lúc đó Trung đoàn đang hành quân vùng Cái Bè. Từ Sài Gòn, qua Ngả Ba Trung Lương, chạy thêm một đoạn xa nữa thì tới Cai Lậy, rồi tới Cái Bè, xong quẹo mặt chạy tít mù vào sâu bên trong khoảng 20 cây số, tới cuối đường lộ thì gặp một cái xã mang tên Hậu Mỹ, nơi đây chính là cái ruột của Đồng Tháp Mười, lính tráng hành quân vùng này nghe đến Hậu Mỹ là đủ ớn xương sống. Không hiểu sao nơi giửa Đồng Tháp Mười lại có một nơi dân cư sinh sống bắng nghề nông rất trù phú.

Đám Tân Chuẩn úy chúng tôi, sau khi trình diện, được giử lại Ban Chỉ Huy vài hôm để tìm hiểu về cách làm việc của các phòng ban nơi này. Sau đó Ban Quân số phân chia chúng tôi về các đơn vị. Vị Sĩ quan phụ trách hỏi có Chuẩn úy nào tình nguyện về Đại Đội Trinh Sát hay không? Tôi đáp nhận, nói theo kiểu Cao Xuân Huy trong Tháng Ba Gẫy Súng, tôi chọn về đơn vị tác chiến thứ thiệt này, mà trong lòng không có một chút oán thù nào với phía bên kia, mà chỉ vì cái máu ngông nghênh tuổi trẻ, và kế đó là bị kích thích bởi cảm giác mạnh của chiến trường.

Một Trung đoàn Bộ binh có 3 Tiểu đoàn và một Đại đội Trinh sát, đám chúng tôi có 12 thằng, được phân chia về các Tiểu đoàn, chỉ có mình tôi về Trinh sát. Sau khi chia tay ở sân cờ xong, chúng tôi ra đi biền biệt, hầu như không còn mấy khi gặp nhau nữa. ĐĐTS cho người lên dẫn tôi về trình diện Đại đội trưởng, lúc đó đơn vị đóng ngoài căn cứ của Ban Chỉ huy Trung đoàn. Trung úy ĐĐ Trưởng có biệt danh là Đại bàng, dáng người cao to trông rất dử dằn, cặp mắt ti hí luôn luôn nhìn chằm chằm tóe lửa, giọng nói gầm gừ trong cổ họng, tất cả toát lên một nét uy phong làm khiếp sợ người đối diện ( trong đó có tôi nữa). Tôi đứng nghiêm chào trình diện theo đúng quân kỷ:" Chuẩn Úy NĐC, số quân 72/150181, trình diện Trung Úy". Ông nhướng mắt lên nhìn tôi, trên gương mặt hình như có nét thất vọng (mãi sau này tôi biết điều đó đúng như vậy). Nhìn tôi một hồi, rồi phán cho tôi một câu: "Anh về làm Trung đội phó viễn thám!". Trời đất! tôi thầm nghĩ cái bằng tốt nghiệp của tôi là Trung đội trưởng, mà giao cho tôi làm Trung đội phó là sao nhỉ? Lúc đó, tôi chớ hề biết rằng làm Trung đội phó là còn may mắn, các sĩ quan về sau có khi còn làm Trưởng toán Viễn thám, thiệt là chết dở.

Đại đội TS lúc đó có khoảng trên trăm người lính, được chia làm hai Trung đội Trinh sát và một Trung đội Viễn thám. Các Sĩ quan Trung đội trưởng ra trường trước tôi vài khóa mà trông rất "ngầu", uống rượu như điên, nói năng bạt mạng. Còn lính tráng nữa chứ, tôi nhìn họ mà sợ lắm, họ được tuyển chọn từ các nơi khác về đây, nên trông rất khiếp hồn. Phần lớn họ thuộc gốc nhà nông, chỉ biết đọc biết viết là nhiều. Lạ một điều, những người lính này đối với tôi rất lễ độ, có lẽ phát xuất từ kỷ luật của quân đội. Sau một thời gian sống gần gủi với họ, tôi thấy họ là những người rất đáng mến, thật thà chất phát, coi trọng nghĩa tình, một khi họ quí trọng một cấp chỉ huy nào thì họ sẵn sàng xả thân, và họ không dể sợ như tôi nghĩ lúc ban đầu.

Vài hôm sau, gặp bữa ĐĐ tề tựu đông đủ, Đại bàng đưa tôi ra giới thiệu trước hàng quân, rồi ông bảo tôi phát biểu. Trời đất ơi! tôi run quá, hai đầu gối cứ run lẩy bẩy, tôi có bao giờ nói chuyện trước một đám đông trông khiếp vía như thế này bao giờ đâu. Cho nên tôi ngượng nghịu lắm, vừa nói vừa ngó xuống đất, không dám ngó mặt ai, bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng. Bây giờ nghĩ lại, tôi không còn nhớ tôi nói cái gì nữa, nhưng tôi vẫn nhớ tiếng chắt lưỡi bực mình của Đại bàng đứng sau lưng tôi, nói được chừng 10 phút thì tôi hụt hơi hết sức, Đại bàng phải ra lịnh giải tán đám đông. Ông giận dữ kéo tôi ra chỗ vắng, rồi hất hàm hỏi tôi: "Chuẩn úy tốt nghiệp Trường Sĩ quan nào vậy?" Tôi biết ngay là có chuyện không ổn, mỗi khi xếp gọi mình bằng cấp bậc là tai họa đến nơi rồi. Tôi đứng nghiêm, trả lời: "Dạ tôi tốt nghiệp từ Trường Bộ Binh Thủ Đức". Ông ta bèn xán cho tôi một câu nhớ đời: "Vậy mà tôi tưởng Chuẩn úy tốt nghiệp từ Trường Nữ Quân Nhân!" Tôi nghe mà choáng váng mặt mày, ông đã điểm trúng tử huyệt của tôi, vì hồi còn là sinh viên sĩ quan trong trường Bộ binh, chúng tôi thường coi là điều sỉ nhục khi bị cấp trên mắng là Nữ quân nhân. Tối hôm đó khi đi ngủ tôi lặng lẽ ứa nước mắt.

Tôi về làm Trung đội phó cho Chuẩn Úy Vương Hoàng Thắng, khóa 3/72, anh ta là người trí thức có bằng Cử nhân Chính trị Kinh doanh. Thấy tôi cà ngơ cà ngáo, anh thương tình kêu đệ tử giúp đỡ cho tôi mọi chuyện. Chiều hôm đó, tôi lại gặp một chuyện khôi hài, dở khóc dở cười, không sao quên được.

Thường thường chiều đến, lính tráng kéo ra bờ sông tắm giặt, tôi cũng đi tắm như họ. Thay vì nhảy ào xuống sông bơi lội như mọi người, tôi lại rất sợ đỉa nên đứng trên bờ cầm nón sắt múc nước sông dội lên người. Tắm một hồi, tôi cảm thấy có cái gì đó là lạ, nhìn quanh thấy mọi người chăm chú nhìn tôi, rồi còn xầm xì bàn tán gì đó. Bỗng nhiên cả đám cười rộ lên, có anh lính lên tiếng: "Sao Chuẩn úy không xuống tắm với tụi tôi mà đứng chi trên bờ, ý trời ơi! sao nước da của Chuẩn úy trắng nõn như da con gái vậy"

Tôi ngượng điếng người, cảm thấy máu chạy rần rần trên mặt, muốn chui xuống đất mà trốn cho đỡ xấu hổ. Vậy mà đã hết đâu, cái ông Thượng sĩ già đứng gần đó còn đớp thêm một câu:" Ý cha! cái bàn chân của Chuẩn úy đẹp như bàn chân của các tiểu thơ, bàn chân này chắc sẽ có số sướng lắm đây!" Thật là khổ cho cái thân học trò, hết là Nữ quân nhân, bây giờ lại giống con gái, thiệt chán.

Miền Tây là vùng đất nổi danh sình lầy, Hậu Mỹ là nơi tiếp đón tôi trong những ngày đầu về đơn vị và cũng là nơi sình lầy ghê khiếp. Dân trong xã người ta cất nhà dọc kinh Tổng đốc Lộc, ra khỏi mí vườn là ruộng lúa xạ ngút ngàn. Sáng sớm, lính tráng lo cơm nước xong xuôi, là bắt đầu nai nịt lên đường, để tham dự cuộc hành quân lục soát hàng ngày. Bước ra khỏi mí vườn là bắt đầu lội ruộng, trước tiên nước đến ngang đầu gối, rồi khi vượt qua những trãng sâu, nước cao tới ngực, và cứ thế chúng tôi ướt sũng từ sáng tới chiều, cho nên quần áo chúng tôi nhuộm phèn vàng chạch, trông rất kỳ quái.

Hậu Mỹ là vùng lúa xạ nên rất ít bờ ruộng, khi đã đặt chân xuống ruộng là phải đi một mạch cho tới bờ bên kia cách xa vài cây số, không ngừng giữa đường được. Đất ruộng người dân cày xới lên, thành từng tảng đất to như trái dừa lớn, ngổn ngang kín mít mặt ruộng và nước thì lấp xấp. Tôi vừa đi vừa lựa thế đặt chân xuống, sình lầy bám chặt nên khi rút bàn chân lên thật khó nhọc. Mặt trời rọi ánh nắng gay gắt khiến mồ hôi tuôn ra đầm đìa, lúc đầu tôi còn lấy tay áo gạt mồ hôi, sau cứ để mặc, mồ hôi nhỏ lăn tăn lên mặt ruộng. Đó là tôi mang ba lô rất nhẹ, chỉ có quần áo đồ đạc cá nhân, còn lương thực lều võng đã có người lính đệ tử mang vác phụ. Tôi ngó qua những người lính đi chung quanh, thấy họ mang vác rất nhọc nhằn, phải oằn lưng mang lều võng, súng đạn, mìn bẫy, gạo, cá khô, đồ hộp, mắm muối, xẽng, dao... người thì đeo trên ba lô cái nồi, người thì mang cái chảo, họ lặng lẽ bước đi, tôi không nghe một lời than van nào, họ cắn răng lại mà cam chịu, bởi vì có than van cũng chẳng ai nghe. Khi đi tới bờ kinh ở tít đằng xa, áo tôi ướt sũng mồ hôi, cho đến nỗi, tôi cởi áo vắt mồ hôi chảy ra ròng ròng. Tôi mệt muốn đứt thở, bèn nằm vật ra đất, tôi mặc kệ hết mọi điều, không còn biết trời trăng gì nữa hết. Lúc đó tôi nghĩ có ai bắn cho tôi một phát súng ân huệ, chắc còn sướng hơn là sống, đời lính sao mà khổ quá!

Theo Đặc san Cư An Tư Nguy, phát hành tại San Diego, thì Trường Bộ Binh Thủ Đức đã đào tạo 55 ngàn Sĩ quan, trong số đó có 15 ngàn Sĩ quan đã tử trận và không dưới 10 ngàn người đã trở thành Phế binh.

Trung đội trưởng là chức vụ đầu tiên của Sĩ quan mới ra trường và là chức vụ duy nhất chỉ huy bằng miệng (các cấp cao hơn thì chỉ huy qua máy truyền tin). Khi xung phong chiếm mục tiêu, Sĩ quan Trung đội trưởng cũng ôm súng chạy ngang hàng với lính. Khi đóng quân phòng thủ đêm, Trung đội trưởng cũng nằm ngang với lính. Trước mặt Trung đội trưởng Trinh sát không có bạn nữa mà chỉ có phía địch quân. Cho nên lính dễ chết thì Trung đội trưởng cũng dễ chết y như nhau, súng đạn thì vô tình nên không phân biệt ai với ai, quan với lính đều bình đẳng trước cái chết. Đó là lý do giải thích tại sao Chuẩn úy mới ra trường chết như rạ là vì thế.

Có một bữa, tôi lội hành quân với đơn vị, đang bì bõm lội sình, thì tiếng súng nở rộ lên phía trước, Trung đội tản ra, tôi cùng Chuẩn úy Thắng và đám đệ tử tấp vào một lùm chuối khá lớn. Tôi đứng đó nhìn trời hiu quạnh, trong khi Chuẩn úy Thắng chuyện trò với Đại bàng qua máy truyền tin. Sau đó im lìm không nghe thấy lịnh lạc gì cả. Bỗng tay lính truyền tin nói với Ch/U Thắng: "Đại bàng kêu Ch/U lên trình diện gấp." Anh Thắng bỏ đi một hồi, thì lính truyền tin lại bảo tôi: "Đại bàng muốn gặp Ch/U Châu"

Tôi mới vừa cầm ống nghe áp vào tay, thì nghe chửi xối xả, giọng ông lồng lộng một cách giận dữ, té ra là do Ch/U Thắng quá sợ nên không dám xua quân tấn công. Đại bàng gầm lên bảo tôi: "Nè! Ch/U Châu, tôi giao Trung đội lại cho ông, ông có dám dẫn quân lên đánh mục tiêu trước mặt hay không? Tôi nghe lịnh mà sợ muốn "té đái trong quần", run lập cà lập cập rồi trả lời tuân lịnh. Tôi tháo ba lô quăng lên bờ ruộng cho nhẹ người, rồi cầm khẩu súng tiểu liên M16, miệng chỉ kịp kêu lớn: "Tất cả theo tôi". Lúc đó tôi "quíu" quá, nên không còn nhớ đến bài bản chiến thuật nào từng học ở quân trườn.

Tôi xông lên, vừa chạy vừa bắn vừa la (không biết la cái gì nữa!) Cả trung đội hoảng hốt sợ tôi bị bắn chết, nên cũng vùng dậy chạy theo. Phía bên kia, thấy tôi chạy dẫn đầu rất hung hãn, chắc tưởng sau tôi là đại quân ghê gớm, bèn lập tức tháo lui. Trong lúc vội vàng họ còn bỏ lại mấy cây súng AK nữa chứ. Tôi thanh toán mục tiêu chỉ đâu chừng 10 phút. Ai cũng tưởng tôi gan dạ chứ đâu có biết rằng tôi làm được như thế vì quá "rét" ông xếp dữ dằn.

Sau đó Đại bàng kéo quân lên, ông nhìn tôi gườm gườm, có lẽ ông chưa thấy một Sĩ quan nào lại lập chiến công "khùng điên ba trợn" như tôi. Hết cơn giận, ông trả quyền chỉ huy trung đội lại cho Ch/U Thắng, tôi trở về vị trí cũ.

Sau “chiến công đầu tiên”, tôi được điều qua các Trung đội khác, xử lý công việc tạm thời cho các Trung đội trưởng đi phép hay bị thương. Một điều may mắn, (hay Trời đãi kẻ khù khờ!) khi nắm quyền tạm thời đó, với những trận đánh mà tôi tham dự, tôi đều hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp. Đại bàng đã nhìn tôi bằng cặp mắt đỡ aí ngại hơn ngày đầu mới gặp tôi.

Ông Đại bàng này sau đó thuyên chuyển qua đơn vị khác. Đại bàng mới đến thay thế cũng mang cấp bậc Trung Úy, nhưng dáng dấp thư sinh, ăn nói hiền lành hơn ông trước. Trong bữa nhậu bàn giao chức vụ, ông cũ giới thiệu các sĩ quan trong đơn vị cho ông mới. Sau khi điểm mặt 3 Trung đội trưởng, cuối cùng ông ta chỉ tôi là một Trung đội phó, rồi đưa ra nhận xét làm sửng sốt mọi người: "... đây là một sĩ quan xuất sắc, một tay chơi tới bến của đơn vị..." Hai người sửng sốt nhất hôm đó là tôi và ông Đại bàng mới. Đối với tôi, tôi chỉ cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình. Với Đại bàng mới, ông ta lấy làm lạ vì ông cứ ngỡ sĩ quan xuất sắc nhất phải là mấy ông Trung đội trưởng kia, sao lại là cái tay Trung đội phó trông hết sức ngớ ngẩn này. Có lẽ vì cái nhận xét này, chỉ một thời gian ngắn sau đó, tôi được Đại bàng mới cất nhắc lên làm Trung đội trưởng thật thụ.

Tham dự hết trận đánh này đến trận đánh khác, để sống còn, không còn con đường nào khác, tôi phải tận lực lo công việc của mình. Càng ngày tôi càng đạt được sự tin cậy cao nơi cấp chỉ huy, chính điều đó đã đẩy trung đội tôi vào chốn hung hiểm. Khi Đại đội tiến quân vào nơi tử địa, trung đội tôi được lịnh đi đầu, khi rút quân từ nơi đó ra, chúng tôi bao chót. Khi tấn công vào mục tiêu, chúng tôi được giao nơi khó gặm nhất, và khi phòng thủ thì chúng tôi nằm nơi dễ chết nhất.

Người ta thường nói: "Nhất tướng công thành, vạn cốt khô", tôi không phải là tướng, chỉ là một sĩ quan có cấp bậc và chức vụ thấp nhất, nhưng lính tráng dưới quyền tôi đã chết la liệt, có khi chết nhiều và nhanh chóng đến nỗi tôi chưa kịp nhớ mặt người lính của mình nữa. Bởi sự tin cậy của Đại bàng dành cho tôi mà trung đội tôi phải chịu những tai ương này.

Ông ta rất quí mến tôi, chưa hề quát mắng tôi một tiếng nặng lời nào, có món ăn ngon, ông sai đệ tử đến mời tôi dùng cơm với ông, có huy chương nào quí giá ông đều ưu tiên dành cho tôi. Ông qúi tôi như vậy vì ông biết rằng, nếu cứ xử dụng tôi như thế thì trước sau gì tôi cũng chết. Làm sao tôi sống thọ, khi đi hết chiến trường này đến chiến trường khác, mà lại toàn là những nơi "đầu sóng ngọn gió". Vậy mà điều là lùng là tôi vẫn sống.

Khi về đơn vị Trinh sát này, tôi có được một điều may mắn, là được phục vụ trong một đơn vị lưu động khắp miền Tây. Khởi đầu của tôi là tại Cái Bè- Cai Lậy với các địa danh nổi tiếng như Hậu Mỹ, Mỹ Phước Tây, Bà Bèo, Láng Biển...

Từ Cai Lậy đi về hướng Bắc khoảng 60 cây số là tới Mộc Hóa, rẽ trái đi thêm một đoạn xa nữa, tới một nơi tận cùng gọi là Bình Thạnh Thôn, còn có tên là Long Khốt, đây là một trong những chiến trường ác liệt nhất của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Từ nơi này, chúng tôi ngồi xe Thiết giáp băng ngang qua Đồng Tháp Mười để tới Hồng ngự, chính cái lúc băng ngang này đây, tôi mới biết rõ về Đồng Tháp Mười, đây là một vùng đầm lầy kinh hãi nhất. Đi suốt một ngày với Thiết giáp, tôi không hề thấy có một loài cây nào sống nổi, ngoại trừ loại cỏ bàng (dùng để dệt chiếu), không có một bóng chim, không có một con cá, nước phèn màu vàng sậm. Tóm lại không có một sinh vật nào sống nổi huống chi là con người, vùng đầm lầy chạy dài ngút mắt đến chân trời, khung cảnh im lìm ghê rợn.

Rồi có khi, chúng tôi rời Mỹ Tho xuôi Nam, băng qua sông Tiền bởi Phà Mỹ Thuận, rồi băng qua sông Hậu với Phà Cần Thơ, xuôi theo lộ cái tới Cái Răng- Phụng Hiệp, rồi rẽ vào Phong Điền - Cầu Nhím. Nơi đây tôi ngạc nhiên với vùng giàu có tột bực này. Ở đây người dân sinh sống bằng vườn cây ăn trái, sáng sớm ghe chở trái cây chạy lền trên mặt sông, để đến điểm tập trung giao hàng chở đi các nơi khác. Nhà cửa của họ ở miệt vườn mà trông rất bề thế như biệt thự ở thành phố chứ không phải thường.

Rồi chúng tôi đến Phong Phú- Ô Môn, tiến sâu vào bên trong chúng tôi đến Thới Lai- Cờ Đỏ, sự trù phú không sao tả xiết. Có khi chúng tôi ngồi tắt ráng đi từ Thới Lai đến Cờ Đỏ, hai bên bờ kinh nhà cửa nguy nga tráng lệ theo kiểu miệt vườn, không hề có cảnh nhà tranh vách đất nào cả, nhà nào cũng bề thế có xe máy cày đậu bên hông. Tuy nhiên càng vào sâu hơn nữa, chúng tôi gặp những vùng hoang vu như Bà Đầm- Thát Lác, vì giặc giã dân chúng tản cư đi hết, nhà cửa bỏ hoang phế trông rất âm u rợn người.

Trong tất cả những vùng mà tôi đã đi qua, có một vùng đất hết sức lạ lùng, và là một nơi đối với tôi đầy ắp kỷ niệm,vừa thích thú vừa buồn rầu đau đớn. Mùa Khô năm 1974, Đại đội chúng tôi được trực thăng bốc từ phi trường Cao Lãnh, đổ xuống một cánh đồng bát ngát nằm cạnh biên giới Campuchia. Trung đội tôi nhảy líp đầu, khi xuống tới đất tôi hết sức ngạc nhiên về vùng đất xa lạ này. Cánh đồng khô khốc và phẳng lì, không hề có một bờ ruộng nào cả, trên cánh đồng có nhiều gò đất nổi lúp xúp ở khắp nơi. Khi trung đội rời khỏi trực thăng, tôi lập tức ra lịnh tiến quân theo thế chân vạc thiệt nhanh nhằm chiếm một gò nổi trước mặt, khi cách gò chừng một trăm thước, tôi cho dừng quân lại, dàn hàng ngang nằm yểm trợ cho một toán khinh binh vào lục soát.

Sau một hồi, thấy không có gì lạ, khinh binh khoát tay cho trung đội tiến vào. Khi vào tới nơi, tôi tung các toán ra canh gác chung quanh gò. Trên gò có thật nhiều cây xanh che bóng mát và có vài đìa cá, lính tráng người nào không mắc phiên gác thì ùa xuống tát đìa. Khi đìa cạn, cá lộ ra bò lúc nhúc đặc lền như bánh canh.

Một lát sau cả Đại đội theo trực thăng đổ xuống, kéo vào gò trú ẩn vị trí cũng vừa đủ. Đêm tới, chờ cho trời tối hẳn, Đại bàng ra lịnh kéo quân đi đến một vị trí khác để đóng quân, vì vị trí ban ngày đã bị lộ. Chúng tôi kéo qua một cái gò khác, đêm đó chẳng ai ngủ được, vì lũ chuột đồng ở đâu kéo tới, chúng bò ngang dọc lùng sục khắp nơi, lại còn chui tọt vào mùng gặm nhắm chân tay của chúng tôi nữa chứ. Tờ mờ sáng hôm sau, có một đàn xe bò đông đảo khoảng mười mấy chiếc kéo ngang chỗ đóng quân, lính tráng hỏi họ đi đâu, họ nói kéo nhau đi tát đìa, trời đất! Tát đìa mà kéo một đàn xe bò như thế này ư?. Không biết họ đi đến đâu, chiều đến họ kéo về, xe nào cũng đầy ắp cá chứa lủ khủ trong thùng chậu lớn. Sau đó họ đi đến bờ sông giao cho ghe hàng chờ sẵn, chở cá về Hồng ngự.

Hôm sau chúng tôi kéo vào xóm nhà cất dọc theo hai bên bờ rạch có tên là Rạch Cái Cái. Vì người dân sống trong vùng nước nổi nên nhà cửa họ cất cao lêu nghêu theo kiểu nhà sàn. Nơi đây đúng là cùng trời cuối đất mà tiếng bình dân gọi là Hóc bà tó. Đây là vùng tranh chấp giữa hai bên nên chiến trận nổ ra liên miên, người dân họ sống rất là tạm bợ, cả xã có vài ngàn người, vậy mà số người biết đọc biết viết chỉ đếm trên đầu ngón tay. Họ thông thương với bên ngoài bằng các ghe hàng tạp hóa hay ghe hàng bông (rau quả) được chở tới từ Hồng ngự. Tôi hỏi họ sao cánh đồng này kỳ lạ, phẳng lì như sa mạc, tôi chưa từng thấy bao giờ. Họ nói, tới mùa lũ tràn về, không có bờ ruộng nào chịu nổi trước sức nước, nên họ để mặc như thế, ruộng của ai người đó biết, họ đã quen từ nhiều đời như thế rồi.

Nhà nào cũng có một lu mắm cá, có nhà còn có lu mắm chuột đồng, đó là thức ăn phòng hờ cho mùa nước nổi. Ghé vào bất cứ nhà ai, chủ nhà nào cũng rất hiếu khách và xởi lởi, bưng ngay ra một chai rượu đế, rồi hối người nhà xé mắm sống trộn dấm tỏi ớt đường, bưng ra mời chúng tôi, ăn với khoai lang hay bắp luộc. Lúc đầu thấy mắm sống tôi sợ lắm không dám ăn, sau vì nhiều người ép quá nên tôi cũng nếm được. Còn mắm chuột đồng thì cho tôi xá, nhìn thấy đã "hãi" nói chi tới ăn. Đám lính chúng tôi đang lội sình "mệt nghỉ", nay được đưa về nơi khô ráo, lại đầy ắp thức ăn, thiệt là "đã đời", chúng tôi hành quân mà như đi picnic. Nhưng trong lòng tôi linh cảm có cái gì đó không ổn, đơn vị chúng tôi luôn luôn được tung vào nơi hiểm địa, chớ đâu phải đi chơi như thế này.

Sau một thời gian hoạt động đơn độc, chúng tôi được tăng cường một Chi đoàn Thiết giáp, có khoảng 12 xe bọc sắt M113. Với sự phối hợp này, vùng hoạt động của chúng tôi rộng lớn hơn. Hàng ngày chúng tôi hành quân tùng thiết với thiết giáp, đi lục soát nơi này nơi khác, vẫn bình yên không hề có tiếng súng.

Rồi cuối cùng cái ngày giông bão đó đã đến. Hôm đó bình thường như mọi ngày, chúng tôi lên xe đi hành quân, đi đến các điểm đã chỉ định sẵn trên bản đồ. Tới một điểm bất chợt, đoàn xe dừng lại dàn hàng ngang yểm trợ vì sình lầy nên không tiến sâu được. Lính Trinh sat chúng tôi được lịnh xuống xe tiến vào bờ vườn. Trung đội tôi đi cánh trái của đội hình Đại đội. Đang đi tôi bỗng lên tiếng:

"Tất cả tản thưa ra, đi túm tụm lại như vầy dễ ăn đạn lắm" Không ngờ lời nói của tôi "linh như miễu", đạn phát nổ vang trời dậy đất. Tôi bị trúng đạn, bật người ngã xuống đất, máu không biết ở đâu chảy xuống mặt thành dòng. Tôi ra lịnh bắn lại xối xả, nếu không phía bên kia thừa thắng xông lên thì thật là nguy khốn. Súng nổ một chập thì im bặt, lúc đó tôi mới có thời gian để xem xét, coi mình bị thương ở đâu.

Sau đó tôi giật mình, hết sức king ngạc vì tôi bị bắn trúng một lượt hai viên đạn AK, một viên bắn trúng vào đầu mũi súng colt tôi nhét trước bụng, viên đạn bể ra văng miễng tứ tán, ghim lên mặt khiến máu chảy thành dòng là vì thế, phần còn lại của viên đạn chui tọt vào đùi máu ra chút ít không nghiêm trọng. Viên đạn thứ hai mới ghê, nó ghim vào cái bóp tôi để trên ngực áo trái phía trước trái tim, viên đạn đã quậy nát cái bóp, trong đó tôi để rất nhiều tiền vì mới lãnh lương, tiền và giấy tờ đã cuốn viên đạn nằm yên trong đó, có lẽ tầm đạn bắn quá gần khiến viên đạn không đủ sức xuyên phá để đâm vào trái tim của tôi. Lúc đó tôi sợ lắm và cũng nghĩ đến một quyền lực thiêng liêng nào đó đã che chở cho tôi. Chứ trên đời này đâu có ai bị bắn trúng một lúc hai viên đạn mà còn sống sót như tôi.

Kế đó, tôi chợt nghe một tiếng rên yếu ớt của người lính đệ tử của tôi: "Thiếu úy ơi! Cứu em!" Tôi nghe xong mà sợ điếng hồn, té ra nãy giờ đệ tử của tôi bị trúng đạn mà tôi không hay biết, bởi vì cỏ cao che khuất nên tôi không thấy anh ta nằm trước tôi khoảng dăm ba thước. Thông thường, mỗi sĩ quan Trung đội trưởng có hai người lính đệ tử, hai anh chàng này có nhiệm vụ lo mang vác đồ đạc và lo chỗ ăn chỗ ngủ cho ông thầy. Những người đệ tử của tôi thường đồi xử với tôi rất chí tình, họ sẵn sàng sống chết với tôi mà không hề so đo tính toán. Khi tôi dẫn trung đội xung trận, hai người lính này theo sát để bảo vệ tôi.

Hôm ấy, một trong hai đệ tử đã hứng đạn cho tôi, khi ngã xuống đã kêu lên lời cầu cứu đến tôi. Ít lâu sau thì anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó mãi cho đến tận bây giờ. Vậy mà 39 năm trôi qua tôi chớ có một lần nào về đứng trước mộ anh, để đốt một nén nhanh nói lên lời cảm tạ. Anh ta là Hạ sĩ Nguyễn văn Đồng, một cái tên bình thường vô danh, nằm lẩn khuất đâu đó trong hàng triệu người đã nằm xuống trong cuộc chiến tức tưởi này.

Sau khi bị thương, tôi giao trung đội lại cho Trung đội phó là Chuẩn úy Nguyễn Thọ Tường. Tôi ra ngoài cho y tá băng bó vết thương, rồi leo lên xe Thiết giáp ngồi nghỉ và quan sát trận địa, tôi chợt thấy Chuẩn úy Tường dàn đội hình trung đội hàng ngang xung phong vô mục tiêu, tôi kêu lên thảng thốt: "Đừng làm thế, Tường ơi!" Sau đó trung đội tôi bị bắn tan tác, Chuẩn úy Tường trúng đạn vô bụng chết tại mặt trận, mắt vẫn mở trừng trừng, có lẽ anh ta không biết sao mình lại chết như vầy. Trung đội tôi coi như tan hàng xóa sổ. " Tường ơi! Vĩnh biệt!".

Không biết sao Đại đội tôi đóng quân bên bờ Rạch Cái Cái trong một thời gian rất dài. Cho tới ngày Mùa Nước Nổi kéo về, nước chảy ào ào một chiều duy nhất, không còn cảnh nước ròng nước lớn gì nữa hết. Nước dâng cao mỗi ngày cả gang tay, đến lúc đó mới thấy lúa xạ là loại lúa kỳ diệu, nước dâng tới đâu thì lúa dâng tới đó, nước sâu 5-6 mét thì lúa cũng dài ra 5-6 mét, tôi chưa thấy nơi nào lại có cây lúa kỳ lạ như vậy.

Rồi đến lượt cá Linh kéo về, cá nhiều đến nổi không biết cơ man nào kể cho xiết, có khi tôi thấy cá Linh nổi lền cả một khúc sông, và thêm một điều kỳ lạ nữa là người dân ở đây họ không ăn cá Linh. Sao lạ vậy? Họ nói, họ thấy cá Linh cả đời nên đâm ra ngán tới cổ.

Ô! nước cứ dâng lên mãi, khiến chúng tôi kiếm chỗ đóng quân khá vất vả, chúng tôi rút lên gò cao, thì rắn với chuột cũng kéo lên gò, ban đêm chúng cứ bò xục xạo trong mùng rất ghê khiếp. Cả đơn vị phải chẻ nhỏ ra thành từng toán. Có hôm, toán của Thầy trò chúng tôi kéo lên một cái gò còn khô ráo, đêm đó như thường lệ tôi nằm ngủ dưới một mái lều.

Tới nửa đêm tôi đang ngủ mê mệt, thì cảm thấy có ai đang khều khều đầu mình, ở chốn trận tiền ai ngủ cũng phải thật nhạy thức. Tôi cũng vậy, tôi tưởng đâu lính gác báo động nên vội vàng ngồi dậy, tôi ngó ra ngoài lều thì thấy dưới bóng trăng sáng vằng vặc, một em bé gái chừng 12-13 tuổi đang đứng nhìn tôi và mỉm cười thật tươi tắn. Tôi trố mắt nhìn ngẩn ngơ một hồi, rồi mới biết đó là hồn ma, tôi sợ quá vội nằm xuống kéo mền trùm kín đầu, nhưng không ngủ được nữa.

Sáng ra, tôi thấy chỗ tôi ngủ đêm qua nằm kề bên một cái trang thờ xiêu vẹo mục nát. Tôi bèn rảo bước đi vào làng hỏi thăm về cái trang thờ trên gò nhỏ này. Người dân cho biết, trước kia có một em bé nhà nghèo lắm, hàng ngày em chèo xuồng ra đồng nhổ bông súng đi bán dạo, rồi một hôm em ra đồng như thường lệ, một lát sau thì súng đạn hai bên nổ rang, em bị đạn lạc chết trên gò. Em chết trẻ hồn thiêng không siêu thoát, đêm đêm em hiện về khóc lóc thảm thiết. Dân làng thấy vậy bèn làm cho em một cái trang thờ để nhang khói cho em. Câu chuyện của em thật tội nghiệp.

Trong đời lính của tôi, tôi sợ nhất là phải đi báo tin tử trận hoặc thăm viếng những gia đình có người thân chết trận. Vậy mà có lần tôi phải làm chuyện này một cách bất đắc dĩ.

Chuẩn úy Nguyễn Mạnh Hà ra trường sau tôi gần một năm, lúc đó anh ta mới 19 tuổi, còn đặc sệt nét con nít. Mặt Hà đầy mụn trứng cá, suốt ngày chỉ thích ăn kẹo, có ai rủ nhậu, nể lắm anh ta mới uống một ly, vừa uống vừa chắt lưỡi hít hà như uống thuốc độc. Điều đặc biệt nhất của Hà là anh ta rất sợ tiếng nổ, khi nghe tiếng đại bác anh ta nhắm chặt mắt lại, bịt kín lỗ tai và mặt mày tái mét. Lúc đầu anh ta về làm phó cho tôi, làm giọng "chảnh" tôi hỏi anh ta một cách xách mé: "Sao ông nhát hít như vầy mà sao lại xin về Trinh sát?" Anh ta bèn phân trần, đâu có xin xỏ gì, Ban Quân số thấy không có ai tình nguyện về TS nên bèn chỉ định bừa, ai dè trúng ngay anh ta. Khi đụng trận tôi lo cuống cuồng đủ mọi chuyện, vậy mà còn phải ngó chừng cho anh ta nữa, vì Hà có biết cái gì đâu, thiệt khổ.

Càng về sau, các sĩ quan càng rơi rụng dần, Chuẩn úy Hà cà ngáo cũng được đưa lên làm Trung đội trưởng. Cái ngày định mệnh dành cho Hà là tại mặt trận Mộc Hóa. Hôm đó cả Đại đội được lịnh tấn công vào mục tiêu. Trung đội của Hà và một Trung đội nữa vỗ vào mặt chính, còn Trung đội tôi thọc vào cạnh sườn. Hà dẫn tổ đại liên chạy đến ẩn nấp vào một gò mả bằng đá ong, ngay lúc ấy phía bên kia phóng ra một trái B40, trúng ngay gò mả, viên đạn nổ tạt ra trúng vào Hà, tội nghiệp quá Hà chết nát bét không toàn thây.

Lúc Hà còn sống, mỗi khi tôi về phép, Hà thường nhờ tôi ghé qua nhà ở Sài gòn, để nhờ mang quà của gia đình xuống cho Hà, vì thế tôi khá thân thuộc với gia đình này. Hà mất chừng một tháng thì tôi xin được cái phép 6 ngày về thăm gia đình. Tôi ghé qua nhà Hà nhằm nói lời chia buồn với gia đình. Tôi vừa tới, Ba Má của Hà chạy ùa ra nắm lấy tay tôi rồi hỏi dồn dập: "Sao cái hôm em Hà nó chết mà sao cháu không về đưa đám tang cho em?" Tôi lúng túng trả lời:" Thưa lúc đó chúng cháu đánh nhau chí chết ngoài mặt trận, cho nên cháu không thể bỏ đơn vị mà về được!".

Thế là vừa ngồi xuống ghế, hai ông bà khóc ngằn ngặt, nước mắt tuôn ra xối xả làm ướt đầm cả ngực áo. Ông bà vừa khóc vừa kể lể tiếc thương cho đứa con không sao kể xiết. Nghe ông bà kêu khóc thảm thiết một hồi, tôi không chịu đựng nỗi nữa và tôi cũng không nói được một lời chia buồn nào, bởi vì lời nói nào cho đủ trước một mất mát quá lớn lao này.

Sau cùng, tôi lảo đảo đứng dậy từ giã hai ông bà để ra về. Trên đường về tôi ghé vào một quán cóc, ngồi uống rượu một mình. Tối hôm đó tôi về đến nhà khá muộn, cả nhà chờ cơm tôi khá lâu nên đã dùng trước. Tôi ngồi vào bàn, Mẹ tôi bày thức ăn la liệt trên bàn cho tôi ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ, mai kia nếu mình có chết, Mẹ cũng bày đồ cúng cho mình như thế này. Tôi vừa ăn vừa lặng lẽ chảy nước mắt.

Cuối tháng 2 năm 1975, tôi bị thương một lần nữa cũng tại Mộc Hóa. Tôi được đưa về điều trị tại Bịnh xá Sư Đoàn tại Vĩnh Long. Tại bịnh xá tôi theo dõi tình hình chiến sự trên cả nước, khi mất Ban Mê Thuột tôi linh cảm điều gì đó không lành. Đến ngày 30-4-1975, khi nghe lịnh buông súng đầu hàng, trong lòng tôi nát bấy.

Sáng ngày 1-5, tôi bước ra khỏi bịnh xá, đứng trên Quốc lộ 4 nhìn về hướng Cần Thơ thấy mặt trời lên đỏ rực, báo hiệu một ngày mới. Lúc đó tôi chớ hề biết rằng, đó là cái ngày đầu tiên cho một hành trình bi thảm khác có tên là "Mạt Lộ".

Ngô Đình Châu

Sunday, December 28, 2014

CHA TÔI, CHẾT KHÔNG CẦN QUAN TÀI

Chép lại một bài thay cho nén hương lòng để thành tâm tưởng nhớ đến Bố Mẹ nhân ngày giỗ Bố lần thứ 8 và giỗ Mẹ lần thứ 7 (sau 12 ngày)




                                          Bàn thời Bố Mẹ.
                                         Nguồn Nam Hòa.

Tôi không biết bắt đầu câu chuyện từ lúc nào, nhưng có lẽ ấn tượng nhất và rõ nét nhất mà hầu hết người dân miền nam Việt Nam nhớ mãi là ngày 30/4/1975.

Khi miền Nam sụp đổ cũng là lúc bất ngờ tất cả nỗi thống khổ đày đọa ập xuống. Nhanh như một cơn cuồng phong thịnh nộ phá nát tan hoang. Mất tất cả!

Ngày 10/06/1975 tôi vẫn còn nhớ rất rõ. Trước khi đi cái gọi là “học tập cải tạo” 10 ngày, dù với suy nghĩ chỉ là 10 ngày như lời thông báo, cha tôi cũng không có lấy mấy ngàn dằn túi. Ông bảo tôi (lúc đó 19 tuổi) đem 2 chỉ vàng cuối cùng còn lại của gia đình- là đôi bông tai của bà nội tôi để lại- ra tiệm vàng bán. Đó là kỷ vật quý nhất nhưng đành phải bán để mua ít lương thực cho ông mang đi. Hai chỉ vàng lúc ấy bán được 33 ngàn. Ông mua khoảng 2 ngàn đồng lương thực các thứ và dằn túi 1 ngàn. Còn lại 30 ngàn ông dặn ở nhà cố gắng 13 mẹ con dè xẻn ăn uống đợi Ông về.

Mười ngày trôi qua nhanh chóng- không ai trong số cải tạo trở về. Tôi nghĩ đây là một cú lừa mà đã và sẽ được lịch sử ghi lại kỹ hơn. Giá sinh hoạt tăng từng giờ. Buổi sáng 100 đồng 1 ổ bánh mỳ thì chiều đã lên 120. Sau 3 tuần thì 12 anh em tụi tôi và mẹ tôi không còn một đồng nào trong nhà. Chị tôi lớn nhất 21 tuổi còn đang đi học, và em út mới có 2 tuổi. Mười hai con tàu há mồm tuổi đang lớn nuốt bao nhiêu cho đủ! Cơm và thức ăn mỗi bữa mẹ tôi phải chia cho từng đứa. Vài hột cơm sót nơi đáy nồi cũng không yên. Chúng tôi đổ nước vào và cạo sạch không còn một hột. Còn hơn là gạo châu củi quế.

Mẹ tôi và vài đứa em phải đi xâm canh (một hình thức của kinh tế mới để giãn dân), làm ruộng rau muống. Không lên voi nhưng phải xuống chó, mẹ tôi và em tôi ngày ngày vào ruộng hái rau muống xong gánh bộ về tới chợ cách đó 6 cây số để bán. Buổi sáng khoảng 3 giờ khi trời còn mờ mịt hơi sương và giá lạnh, mẹ và em tôi thay nhau gánh bộ cho kịp phiên chợ sáng. 70 bó rau oằn trên vai người phụ nữ nhỏ bé cao 1,45 nặng chưa tới 40Kg.

6kg rau mới đổi được 1 kg gạo. Một tuần mới cắt được một lần chờ cho rau mọc. Những ngày còn lại là cấy rau, nhổ cỏ, trồng khoai mỳ…

Sức ăn trước ngày 30/4/75 của gia đình tôi một bữa là 3 lít gạo, tức 1 tuần 42 lít, khoan nói chuyện thức ăn cá mắm gì hết. Nay 1 tuần chỉ còn 13 lít!

Bắt đầu tháng 7/1975 lần lượt đồ đạc trong nhà mọc cánh nhẹ nhàng, nhanh chóng, lả lướt, bay đi theo chân những kẻ buôn hàng. Từ cái quạt trần, tôn cống, hàng rào, tủ quần áo, đài radio, giường sắt, đồng hồ treo tường, đồng hồ đeo tay … đều giã từ để về với chủ mới. Hết sạch đồ thì mấy kẻ đi buôn bảo rỡ gạch bông, rỡ bớt tôn ngoài mái hiên, tôn trần nhà bán tiếp.

Bán cho đến khi căn nhà nhỏ bỗng trở nên rộng tênh vì chả còn thứ gì ngoài trừ vài cái nồi nấu bằng củi đen thui cũng đã sứt quai gãy gọng. Buổi tối trải chiếu ngủ dưới đất là xong với cái bụng lép kẹp và cơn đói hành hạ.

Không biết bao lần tôi phải ăn tưởng tượng trong đêm khuya bằng cách hình dung mấy món ăn tầm thường ngày trước như vài con khô, miếng dừa kho, tô canh bầu.. Mơ mà cũng hà tiện không dám mơ thịt cá hải sản.

Bố tôi sau 6 tháng trong trại cải tạo lần đầu được viết thư về, Ông dặn khi lên thăm nuôi, không cần mang theo gì cả vì trong trại có đủ mọi thứ. Hic!

Ông hiểu hơn ai hết, còn cái gì để mà mang cho ông!

Tôi nhớ mãi ngày lên thăm nuôi ông ở trại Thanh Hoá (Hố Nai), cả nhà chỉ có 1 cái xe đạp, còn lại mẹ và các em tôi cuốc bộ 8 cây số mang theo 1 cái giỏ đi chợ lưng lửng với ít thịt kho mắm ruốc, 1 ký đường, 2 hộp sữa và 1 bộ quần áo. Nhìn những người đi thăm nuôi, có người gánh 2 bao đầy mà lòng tôi trào dâng niềm tủi hổ.

Sau đợt đổi tiền ngày 22/9/1975, Chúng tôi như đàn chim vỡ tổ, tất cả bỏ học ngang, vài đứa em nhỏ tiếp tục theo mẹ làm ruộng rau muống, còn lại mỗi đứa một phương trời kiếm sống. Đứa lên Gia Ray vào rừng lấy củi, làm lò than, đứa theo xe lửa bán trà đá, hàng rong, đứa bán thuốc lá.

Hơn 3 năm sau Bố tôi được cho về để nhìn xác nhà tan hoang điêu tàn loang lở, nhìn bầy con xanh khướt, gầy rạc, tản mát. Một chị tôi bệnh tâm thần không người chăm sóc phải lang thang ăn xin đầu đường xó chợ, có lần xin không được, quá đói, chị giựt mấy miếng đậu hũ bỏ chạy, chị bị người ta phang đòn gánh chảy máu lỗ đầu giữa ngày bố tôi được tha về.

Bố không khóc, cũng không nói gì! Qua hàng xóm xin ít bông băng. Lòng ông như xát muối! Có lẽ ông bấy giờ mới thấm sâu mệnh đề “mất Nước là tất cả mất”. Khóc lóc than van ích lợi gì. Giọt nước mắt chỉ làm cho kẻ chiến thắng hả hê say sưa thêm mà thôi.

Rồi theo chủ trương, ông không được ở lại thành phố. Họ hàng nhà tôi đa số cũng là thành phần Ngụy quân, Ngụy quyền nên không ai giúp gì được cho nhau. Cuối năm 1978 Ông lên rừng Gia Ray ngay chân núi, cất túp lều nhỏ bé xiêu vẹo, ngày ngày ông và 2 em tôi sống nhờ rừng.

Ai ở rừng mới biết: ăn của rừng rưng rưng nước mắt! Và từ đó chuỗi ngày lầm than, buồn thảm lại tiếp tục sau hơn 3 năm trong trại cải tạo. Đói nhiều hơn no, buồn nhiều hơn vui. Cực khổ nặng nhọc quần quật suốt cả ngày chỉ đủ kiếm vài lon gạo vài con cá khô.

10 năm sau, tôi đã làm ăn khá hơn, mua được chiếc xe máy Mini scootter, lần đầu tiên lên thăm Ông, quà cho Ông chỉ là 1 lít rượu đế nấu bằng rỉ mật. Ông mừng lắm vì tôi đã tương đối ổn định công việc.

Trong bữa cơm hôm đó, Ông nói:

-Bố năm nay 63 tuổi rồi, cuộc đời không dành cho Bố con mình được sống sum họp và đầy đủ. Dù sao các con cũng cố gắng vươn lên để thoát khỏi bệnh tật, đói khát và tù đày.

Rồi Ông chỉ tay dưới chân ngọn núi Chứa Chan:

- Nhớ lời Bố dặn, nếu Bố có chết, các con không cần quan tài làm chi cho tốn kém, cứ bó chiếu vùi thây Bố dưới chân núi là Bố mát mẻ rồi.

Thú thật, lúc ấy nếu tất cả 12 anh em tôi gom lại chắc cũng không đủ tiền mua cái quan tài loại chót. Ông biết và không muốn các con gánh nặng thêm!

Năm 1999, sau bao nhiêu là khó khăn vì không có tiền làm hồ sơ xuất cảnh diện HO, cuối cùng thì 4 bố con tôi cũng tới được Mỹ. Ngày lên đường mẹ tôi và 9 em phải ở lại vì hộ khẩu lung tung không đuợc phái đoàn Mỹ chấp thuận.

Bốn bố con mà hành trang vỏn vẹn có 5 va ly nhỏ và nhẹ tênh, chưa tới 1/3 tiêu chuẩn trọng lượng.

Đến Mỹ 3 anh em tôi phải đi làm ngay sau tháng đầu tiên để kiếm tiền trả nợ lúc làm hồ sơ. Bố tôi thì ăn welfare [nhân trợ cấp xã hội – ] vì Ông đã 74 tuổi.

Ban đầu hội thiện nguyện giúp thuê nhà, 4 bố con phải ở chung trong 1 căn apartment 2 phòng ngủ cùng với 2 người nữa là 6 người.

Quá chật, chúng tôi đành ra ở riêng trong khi Bố tôi được chính phủ Mỹ cho ở nhà Housing.

Và từ đó Ông sống cô độc, một thân một mình. Nhưng cũng là lúc Ông làm được một việc lớn nhất, to nhất, ý nghiã nhất kể từ sau ngày 30/4/1975!

Hàng tháng Ông trả tiền điện và tiền nhà chưa tới tổng cộng 80$. Thức ăn thì Ông đi xin các Hội từ thiện miễn phí. Có lần tôi giận Bố kinh khủng. Gia đình tôi cố tình chở Ông vào 1 quán kêu cho Ông mấy món ngon, Ông từ chối, chỉ xin cho 1 diã bánh cuốn là đủ. Ông nói: Ở Việt Nam nhà mình còn quá khổ, Bố không đành ăn ngon bên này nhưng các con đi làm vất vả cần bồi bổ, cứ ăn đi.

Mỗi tháng số tiền dư còn lại gần 400$ Bố để dành và cứ 6 tháng Bố gởi về VN cho Mẹ và 9 đứa con còn ở lại. Chị cả tôi viết thư qua có câu:

“Bố ơi, nhiều lần con phải đi bán máu với số tiền 200 ngàn một lần để có tiền nuôi con. Để có 200 ngàn đồng tiền Việt, tụi cò máu nó đã ăn chặn mấy chặng rồi. Cầm 300$ Bố cho mà con cứ ngỡ trong mơ. Đời con chưa bao giờ cầm số tiền lớn như thế… Phải bán 10 lần máu chỉ mới được 150$ …”

Bố đọc thư không khóc! mặc dù Bố biết chị chỉ cân nặng có… 34 Kg! Hic! Gan góc đến thế là cùng!

Rồi việc phải tới! Một ngày mùa đông năm 2006, tức sau gần 8 năm ở Mỹ. Tự dưng Bố kêu và đưa tôi 8.000$ và một tờ di chúc – nét chữ vẫn còn rất đẹp dù đã có dấu hiệu nghệch ngoạc biểu hiệu của tuổi già – trong di chúc có nói rõ:


Khi bố chết đi, bố đã hỏi cô Hoa (người của một hội thiện nguyện) và biết rằng tiền hỏa thiêu không quan tài chỉ mất có 800$ thôi!
Bố nói bố không cần quan tài, không cần để nhà quàn làm gì cho tốn dăm ngàn, cứ để người ta đưa thẳng bố đi thiêu, trừ tiền thiêu ra, còn bao nhiêu con cứ làm theo di chúc gởi về cho người bên VN.

Sau đó mấy ngày, Bố đột qụy! Người ta đưa Bố vào trại Dưỡng lão. Rồi Bố hấp hối. Ba anh em tôi họp nhau và quyết định làm theo di chúc của Bố. Và chúng tôi phải ký một hợp đồng với nhà thiêu.
Khi Bố tắt thở, sau 1 tiếng người ta đuổi hết anh em tôi ra, trong phòng người ta bỏ Bố vào 1 cái bao và kéo cái fermeture là xong! Quá đơn giản cho một kiếp người!

Khả năng 3 anh em tôi lúc đó mới đi làm ăn lương 1 giờ 8$ chỉ vừa đủ tiền nhà tiền ăn. Vẫn biết có làm đám tang bỏ Bố vào quan tài bằng vàng với hàng ngàn người tham dự cũng vậy thôi vì Bố đâu biết gì nữa mà sao tôi vẫn cảm thấy xót xa vô bờ. Cuối đời của một sĩ quan, từng chỉ huy hàng mấy trăm lính, từng chỉ huy mấy cung đường sắt, âm thầm, vắng lặng và quạnh hiu. Không ai biết, không ai đưa tiễn! Y như một chiến sĩ vô danh!

Người ta bỏ Bố lên chiếc xe kéo, đẩy ngang chỗ chúng tôi đang đứng, tất cả con, dâu và cháu chỉ có 5 người, họ dừng lại và hỏi chúng tôi có muốn nói gì không. Tôi có cảm tưởng như một luồng điện lạnh chạy xé dọc sống lưng. Tôi chỉ lắp bắp nói như kẻ không hồn:

- Vĩnh biệt Bố. Từ nay Bố không còn phải hy sinh nữa Bố nhé. Công ơn của Bố cao hơn núi Thái Sơn Bố ạ!

Rồi họ lạnh lùng kéo Bố tôi đẩy lên chiếc xe dài, đi chỗ nào thiêu hay làm gì, ở đâu, chúng tôi không được biết! Họ làm theo hợp đồng.

Tôi không khóc! Không còn nước mắt để khóc!

Hai tuần sau tôi lấy tro cốt Bố. Khi cô nhân viên nhà xác đưa hộp tro cốt ở dưới có ghi tên bố tôi, chỉ đến lúc bấy giờ, nước mắt tôi tự dưng tuôn ra đầm đìa – vô thức!

Đào Nam Hòa

Tuesday, December 23, 2014

Chúc Mừng Giáng Sinh from Sinh Hoạt QLVNCH Blog


GIỌT MÁU RƠI CỦA NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA CHẾT TRẺ / Phùng Annie Kim



Bài viết mới nhất của Phùng Annie Kim là câu chuyện hơn 40 năm sau của chiếc trực thăng U-H1 bị bắn rơi trong cuộc hành quân Hạ Lào năm 1971.
Với 14 bài viết trong năm, trong đó có bài "Chú Lính Mỹ" tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà là một nhà giáo, định cư tại Mỹ theo diện HO năm 1991, hiện là cư dân Westminster, California. Bài viết mới nhất của Phùng Annie Kim là câu chuyện hơn 40 năm sau của chiếc trực thăng U-H1 bị bắn rơi trong cuộc hành quân Hạ Lào năm 1971.
Sự việc, khung cảnh chuyện kể là có thật nhưng danh tính nhân vật trong truyện do tác giả hư cấu.

1. Bà Tư nằm trăn trở hoài trên chiếc giường nệm thấp. Chăn êm nệm ấm, thân thể mát mẻ, thoải mái mà bà vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Với cái tuổi tám mươi này, đôi khi bà hay quên những chuyện lặt vặt vừa mới xảy ra như ăn rồi mà nhất định bảo chưa ăn, chưa uống thuốc mà quyết liệt không chịu uống nữa, chưa đi tắm mà bảo vừa tắm xong.Thế mà sáng nay, có một chuyện bà không quên. Quyền, con trai bà cho biết Sơn, thằng cháu nội bên Minnesota gọi phone về báo tin sẽ về Cali thăm bà vào dịp lễ Giáng sinh.
Cả ngày nay, bà nôn nóng, cứ đi ra rồi lại đi vào. Bà cầm quyển lịch trong tay đếm từng ngày. Còn hơn một tháng nữa. Sao mà lâu quá! Bà bảo Quyền và Quyên phải dọn cái này, dẹp cái kia, sửa soạn nhà cửa để đón thằng nhỏ.
Nói đến bộ nhớ và sức khỏe của bà cụ tuổi ngoài tám mươi như bà Tư kể cũng hiếm. Chuyện quá khứ, bà nhớ vanh vách các chuyện gia đình xa xưa thời ông cố bà sơ nào hay những kỷ niệm thuở hàn vi ở Việt nam. Nếu có bà con nào đến chơi gợi nhắc chuyện xưa, bà kể lan man hàng giờ không dứt và không sót chi tiết nào. Bà thuộc kinh Phật làu làu. Tiền để dành đi cúng chùa, bà đếm chính xác và biết sắp xếp thành từng loại. Bà dặn cô con gái may cái túi lớn phía trước trong áo lót, bà cất tiền và gài kỹ bằng nút bấm.Việc di chuyển, bà đi lại chậm chạp nhưng vững vàng không cần đến cây gậy. Ban đêm, bà không cần đánh thức các con, tự đi restroom trong căn phòng lớn gần giường ngủ của bà. Bà ăn chay, tập hít thở, đi bộ đều đặn với Quyền mỗi ngày trong khu townhouse. Bà còn xỏ kim được bằng sợi chỉ trắng. Tai bà còn nghe rõ người khác chuyện trò. Mỗi đêm, bà chỉ chợp mắt vài tiếng đồng hồ. Thì giờ của bà hầu hết là những thời công phu sớm tối trước bàn thờ Phật. Bà tọa thiền, tụng kinh, thì thầm cầu nguyện dưới ngọn đèn vàng trong căn phòng ngủ chung quanh trang trí toàn là hình, tượng Phật.

Hơn mười năm nay, nhà bà là một cái chùa nhỏ thanh tịnh và yên tĩnh. Bà xuống tóc, tịnh tu tại gia, sống an lạc, mặc các bộ quần áo màu nâu hoặc màu lam. Các con gọi bà bằng "Cô Diệu" thay vì gọi bằng "Má".
Trong bốn cái cửa "sinh, lão, bệnh, tử" của cuộc đời ai cũng phải trải qua, bà Tư đã vượt qua cái cửa thứ hai và thứ ba một cách nhẹ nhàng. Ai hỏi bà về tuổi già và bệnh tật, bà nói bà chẳng có bệnh gì ngoài bệnh của người già nghĩa là sức khỏe bà một ngày một yếu đi như ngọn đèn dầu, hết dầu thì đèn tắt.
Còn cái cửa "tử" cuối cùng? Bà đang chuẩn bị đấy thôi. Ngoài tám mươi rồi, bà Tư không mong kéo dài tuổi thọ thêm nữa. Ai hỏi cụ bà sợ chết không, bà lắc đầu nói chỉ sợ bệnh nằm liệt giường khổ cho cái thân già và cho con cháu. Trước đây, bà thường nói với các con bà chuẩn bị sẵn cho chuyến đi cuối đời nhưng từ khi gặp lại thằng cháu nội sau bốn mươi năm trăn trở vì nó, bà như được hồi sinh. Bà vui nên càng ngày trông bà càng khỏe ra. Bà yêu đời và ham sống. Vợ chồng thằng Quyền lấy nhau bốn mươi năm không có con, thằng cháu nội đích tôn lưu lạc này như cục vàng quý đối với bà, mang đến tuổi già của bà cả một mùa xuân.
Trong đêm khuya, bà Tư nằm nhớ lại cuộc đời khổ cực của bà trong sáu mươi năm từ lúc lấy ông Tư là hạ sĩ quan nghèo cục Quân nhu thuộc bộ Tổng Tham mưu, lương lậu không đủ nuôi bốn đứa con ăn học, cả nhà sống nhờ vào lò bún thủ công của bà. Bà thức khuya dậy sớm làm bún. Ông Tư và các con bà chia phiên nhau vừa đi học, đi làm, vừa chạy Honda bỏ mối bún ở chợ và các quán ăn ở Sài gòn. Thời chiến tranh leo thang, luật tổng động viên ra đời, Quyền bị đổi ra vùng một chiến thuật ngành quân vận. Quang, đứa con trai thứ hai theo anh ra Đà nẵng nộp đơn vào sư đoàn một không quân phục vụ ngành an ninh và phòng thủ phi trường. Đêm đêm, bà mẹ già chỉ biết cầu nguyện cho hai đứa con đi lính xa nhà thoát khỏi cảnh bom đạn trong cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt.
Được tin trong một chuyến vận chuyển vũ khí, đoàn xe của Quyền rơi vào ổ phục kích của Việt cộng. Quyền bị gẫy nát một chân, được xếp vào loại tàn phế và được giải ngũ. Bà vui mừng vì Quyền vừa thoát được bàn tay tử thần, được chuyển vào Sài gòn cũng là lúc một nỗi lo khác lại đến. Quang tình nguyện chuyển sang ngành tác chiến, trở thành xạ thủ trực thăng của phi đoàn 213. Thời gian này, Quang yêu Phượng, cô y tá nổi tiếng là người đẹp của bệnh viện Đà nẵng. Mối tình này đã đơm hoa kết trái đó là thằng Sơn, cháu nội của bà Tư bây giờ.
Sáng ngày mười tháng hai năm một chín bảy mốt, trong một phi vụ tại Hạ Lào, gia đình bà được tin chiếc trực thăng U-H1 bị bắn rơi, Quang và phi hành đoàn tổng cộng mười một người đều tử trận, không thể tìm được xác..
Tin con trai tử nạn một cách thảm khốc, sau đó là nhận giấy báo tử chính thức và tiền tử tuất của Quang, lòng bà mẹ thương con vẫn thầm nuôi niềm hy vọng. Biết đâu chừng thằng Quang còn sống sót và sẽ trở về. Quang là một thằng lanh lợi và thông minh. Biết đâu chừng nó nhảy dù ra khỏi máy bay trước khi máy bay trúng đạn, bốc cháy. Biết đâu chừng nó còn sống và bị bắt làm tù binh tại Lào hoặc bị đưa ra ngoài Bắc. Biết đâu chừng nó chỉ bị thương ở đầu và mất trí nhớ nên sống lang bạt, không tìm được đường về với gia đình. Bà đi tìm người giúp bà câu trả lời. Bà đi xem bói. Ông thầy bói quả quyết thằng Quang còn sống. Số nó đào hoa nếu lấy vợ sớm sẽ có cháu cho bà ẵm bồng. Bà sống, chờ đợi, tin tưởng và hy vọng mỏi mòn với ba chữ "biết đâu chừng"...
Sau khi mất nước, bà Tư nghe tin đồn có nhiều tù binh Việt Nam Cộng Hòa được chính phủ Hà nội thả về theo quy ước quốc tế về việc trao đổi tù binh. Quyền nói với bà Tư làm gì có chuyện thả tù binh trong khi hàng trăm ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, các viên chức chế độ cũ gọi chung là "ngụy quân", "ngụy quyền" bị kẹt lại, phải ra trình diện và bị giam giữ ở các trại tập trung để "học tập cải tạo". Quyền may mắn là hạ sĩ quan đã giải ngũ nên không nằm trong số đó. Nếu không, bà Tư lại phải lê lết trong các khu rừng để thăm nuôi thằng con tù.
Tin đứa con tử trận chưa làm ráo nước mắt bà mẹ thì hai năm sau ông Tư mất vì tai biến mạch máu não. Thằng Quốc, con trai thứ ba học hành và lớn lên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vừa tốt nghiệp trung học. Năm một chín bảy tám, mặc dù có hai anh đi lính và tử trận dưới chế độ "Mỹ ngụy", nhà nước Cộng sản vẫn bắt con "ngụy" không đủ tiêu chuẩn vào đại học được "ưu tiên" thi hành nghĩa vụ quân sự ở chiến trường Campuchia. Bà khóc hết nước mắt. Bà tính đường lui, trở về quê ở Gò công cho thằng Quốc trốn nghĩa vụ. Nào ngờ mạng lưới công an ở các xã, huyện còn dầy đặc hơn thành phố. Bà bị công an địa phương bắt giam trong trại tù cải tạo lao động thời hạn hai năm vì tội không thi hành luật pháp và cố tình bao che cho tội phạm.
Nếu bị ở tù để cho thằng con không phải đi lính, bà Tư sẵn sàng hy sinh cái mạng già để cứu con. Nào ngờ bọn chúng, một mặt bắt giam bà đi lao động, một mặt ruồng bắt Quốc và làm áp lực để Quốc ra trình diện. Thời đó, cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước Cộng sản Việt nam và Campuchia được sự hậu thuẫn của Trung Quốc càng ngày càng ác liệt. Thằng nhỏ mười tám tuổi vừa tốt nghiệp trung học, không biết gì về súng ống trận mạc, không biết gì về chiến tranh, không có chút lý tưởng gì về tổ quốc, niềm mơ ước duy nhất của nó là được vào đại học thất bại, bà mẹ đang ở tù, Quốc chấp nhận trình diện, lên đường ra trận để bà mẹ già được tha về sớm.
Một năm sau, Long, người đồng đội của Quốc bị thương về phép, kể lại cho gia đình bà Tư về cái chết của Quốc. Trong một chuyến vượt sông Mekong qua ngả Neak Luang phía bắc tỉnh Kompong Cham, chưa kịp tiến vào Phnom Penh, trước khi được tiếp viện, sư đoàn 7 của Quốc đã đụng độ một trận lớn với quân Khmer Đỏ. Toàn bộ sư đoàn bị tiêu diệt chỉ còn sống sót một người là Long. Thi thể Quốc và cả sư đoàn được chôn cất ở nghĩa trang liệt sĩ Tây Ninh. Ít lâu sau, giấy báo tử gửi về. Cuối năm giấy chứng nhận là gia đình liệt sĩ đến tay bà. Bà Tư được ủy ban nhân dân truy tặng là "mẹ chiến sĩ", "mẹ anh hùng".
Hàng năm, vào những ngày lễ thương binh liệt sĩ, cán bộ của ủy ban nhân dân đến thăm hỏi, tặng quà và khen thưởng những gia đình liệt sĩ như bà. Bà treo cái khung gỗ có lộng tờ giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ hình cờ đỏ sao vàng trên tường. Ít hôm sau, bà lấy xuống, cất vào ngăn tủ. Cứ như thế cho đến ngày bà qua Mỹ.
Cuộc đời bà Tư là một chuỗi dài những giọt nước mắt vì mất mát. Bà chỉ là một bà mẹ Việt nam bình thường, nghèo khổ, ít học. Bà không biết gì về các từ ngữ chính trị dao to búa lớn như lý tưởng, tổ quốc, ý thức hệ, cộng sản, tư bản, cộng hòa xã hội chủ nghĩa, độc lập, tự do, hạnh phúc, liệt sĩ, anh hùng, hy sinh... Bà chỉ là một bà mẹ thương con, một nạn nhân chịu nhiều nỗi đau thương trong chiến tranh. Chiến tranh đã làm một đứa con bà bị tàn phế, tật nguyền. Chiến tranh cướp mất hai đứa con bà, một đứa gửi nắm xương tàn trên chiến trường Hạ Lào xa xôi còn một đứa được vinh danh là liệt sĩ.
Trước khi đi Mỹ, Long đưa gia đình bà đã đến nghĩa trang liệt sĩ ở Tây Ninh thăm mộ Quốc. Cơn mưa làm cho con đường đi vào nghĩa trang lầy lội, ướt át. Mộ Quốc và năm người đồng đội nằm ngay gần lối đi, xây quanh nhau thành một vòng tròn, chính giữa là một bồn hoa. Trước cái chết, mọi người đều bình đẳng. Hàng ngàn những ngôi mộ thấp, mộ bia màu trắng, xây cùng một kiểu. Dòng chữ màu vàng khắc trên mộ bia "Nơi an nghỉ của liệt sĩ Trần Hưng Quốc, hai mươi tuổi, sinh ngày hai mươi tháng ba năm một chín năm mươi tám, hy sinh tại chiến trường Campuchia".
Năm một ngàn chín trăm tám mươi chín, Quyền may mắn được gia đình bên vợ bảo lãnh qua Mỹ. Năm năm sau, Quyền bảo lãnh cho bà Tư và Quyên. Quyền muốn bốc mộ Quốc đem tro cốt qua Mỹ nhưng bà Tư lắc đầu:
-Thôi con ơi, thằng Quốc đã nằm xuống nơi mảnh đất Tây Ninh này. Hãy để nó yên nghỉ ở quê hương với đồng đội của nó. Không mang tro cốt nó theo nhưng nó vẫn gần Cô trong những câu kinh tiếng kệ hàng ngày.

Rồi bà ngậm ngùi:
- Cô chỉ còn một nỗi ray rứt về số phận thằng Quang ở Hạ Lào. Không một dấu tích gì về chiếc máy bay trực thăng bị bắn rớt thì làm sao biết được. Không chừng nó còn sống, không chừng gì đắp cho nó một nấm mộ.

2. Sau một tai nạn xe hơi, chân bên trái bị bó bột làm Phượng đi lại khó khăn phải dùng cây nạng gỗ. Mỗi ngày có một cô "care giver" đến chăm sóc sức khỏe cho Phượng, giúp Phượng ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp nhà cửa. Một cô khác đến làm vật lý trị liệu cho cái chân bên phải đã hồi phục dần. Căn nhà bây giờ vắng vẻ chỉ có hai mẹ con. Chị Phương đã dọn về Cali từ lâu. Bà mẹ Phượng mất đã năm năm. Ông Daniel mất năm ngoái. Thằng Sơn ly dị vợ, về ở với Phượng. Nó bận bịu suốt ngày trong bệnh viện. Năm ngoái, lễ Thankgivings hai mẹ con về thăm bà Tư. Năm nay, chân đau, không về được, Phượng nhắc con nhớ lấy phép nghỉ về Cali thăm bà nội vào dịp lễ Giáng sinh. Bà nội già yếu rồi. Bà sống không còn bao nhiêu năm nữa.
Từ ngày tìm được tông tích của người cha quá cố, thằng Sơn gắn bó với gia đình bên nội. Vào những ngày nghỉ, Sơn gọi về thăm bà nội, hai bà cháu nói chuyện rất lâu, có khi cả tiếng đồng hồ. Nó nói tiếng Việt giỏi nhờ sống gần bà ngoại từ bé.
Phượng hồi tưởng lại bốn mươi năm trôi qua, ngày đó cả hai đều rất trẻ. Phượng hơn Quang hai tuổi, là y tá ở bệnh viện Đà nẵng, gặp Quang trong một buổi tiệc của sư đoàn hai không quân tổ chức tại câu lạc bộ trong phi trường. Trai tài gái sắc gặp nhau. Quang vừa đẹp trai lại tài hoa, biết chơi đàn guitar, hát rất hay những bản nhạc về lính của nhạc sĩ Nhật Trường. Hai đứa dự định sẽ làm một cái đám cưới đơn giản. Quang sẽ lấy thời gian nghỉ phép đưa Phượng vào Sài Gòn ra mắt gia đình Quang. Thời gian đó Quang bận đi học khóa bắn súng và trở thành người xạ thủ gan lì và dũng mãnh của không đoàn 41, phi đòan 213. Những cuộc hẹn hò ở bến sông Hàn, những cuộc đi chơi xa ở đồi Bà Nà, chùa Non Nước, bảo tàng Chàm ở Mỹ Sơn...đưa đến kết quả là Phượng có thai.
Phượng chưa kịp báo tin mừng cho Quang thì một hôm, người bạn trong phi đoàn của Quang đến cho hay cuộc hành quân 719 Lam Sơn tại Hạ Lào ngày mười tháng hai năm một ngàn chín trăm bảy mốt, chiếc trực thăng U-H1 Huey bị bắn rơi. Tất cả những người có mặt trong chuyến bay gồm hai vị sĩ quan cấp tá, hai phi công, ba phóng viên Mỹ, một phóng viên Nhật, một phóng viên người Việt, hai nhân viên phi hành đoàn trong đó có trung sĩ thiện xạ Trần Vinh Quang, tất cả mười một người đều tử trận.
Tin đến như một cú sét đánh. Đất trời như nổ tung trước mắt Phượng. Phượng chỉ biết khóc và khóc. Phượng ôm cái bụng bầu ba tháng. Không có một tờ hôn thú. Không có một liên hệ hay tin tức gì liên quan với gia đình Quang ở Sài gòn. Quang chết thật bất ngờ. Quang chết ở lứa tuổi đôi mươi. Quang chết không để lại một dấu tích gì ngay cả một hạt bụi. Phượng chỉ còn giữ lại những kỷ niệm đẹp của một thời yêu nhau còn lưu lại trong ký ức và qua những bức hình hẹn hò xưa cũ.
Có lúc đau khổ và tuyệt vọng quá, Phượng nghĩ mình không còn sức để giữ cái thai, "giọt máu rơi của người lính chết trẻ". Quang đi qua cuộc đời Phượng như một cơn gió thoảng. Có lúc Phượng muốn chết theo Quang nhưng nghĩ đến một sinh vật bé nhỏ đang lớn dần từng ngày trong bụng mình, Phượng không có quyền từ chối trách nhiệm làm mẹ với nó. Có lúc Phượng muốn bỏ cái thai vì dư luận xã hội, vì tương lai của người mẹ trẻ nhưng đứa bé kia có tội tình gì. Nó là mật ngọt của hương vị tình yêu đã đơm hoa kết trái. Phượng phải sống để thay Quang bù đắp cho đứa trẻ mồ côi mất tình thương cha. Phượng phải sống, sống để nuôi con, vì con.
Phương làm đơn xin nghỉ việc, ở nhà nghỉ ngơi, dưỡng thai chờ đến ngày sinh nở. Kinh tế gia đình trông mong vào cửa hàng bán thực phẩm lấy từ các PX Mỹ của chị Phương. Chuyện sinh nở và chăm sóc bé đã có bà ngoại. Thằng Sơn ra đời trong sự thương yêu, đùm bọc của mẹ, bà ngoại và dì Phương. Sơn khỏe mạnh, dễ nuôi, càng lớn nó càng giống Quang. Phượng đặt tên nó là Trần Mỹ Sơn, tên vùng đất lịch sử của người Chàm, một thắng cảnh du lịch ở Đà Nẵng, kỷ niệm một chuyến du lịch ba ngày phép với Quang và cũng là nơi thằng Sơn tượng hình trong bụng Phượng.
Thằng Sơn lẩm chẩm biết đi cũng là lúc Phượng phải gửi con cho bà ngoại để đi làm phụ với chị Phương nuôi thằng Sơn. Với vốn liếng sinh ngữ khá và nghề y tá trước đây, Phượng được người quen giới thiệu vào làm tại bệnh viện Hải Quân Mỹ chuyên chữa cho các thương binh Mỹ từ chiến trường chuyển về.
Những ngày đầu tiên chứng kiến những chiếc trực thăng đậu ở sân trước bệnh viện, những nhân viên tải thương vội vã chuyển những chiếc cáng phủ lá cờ Mỹ từ trên trực thăng xuống, những người lính Mỹ giơ tay chào vĩnh biệt, Phượng không cầm được nước mắt. Phượng khóc cho ai, Phượng hay cho những người vợ, những ông bố, bà mẹ ở bên kia bờ đại dương một ngày nào đó sẽ nhận những chiếc quan tài phủ lá cờ Mỹ?
Còn Quang, người chồng chưa cưới của Phượng, có "hạt bụi nào..." hay chiếc "...hòm gỗ cài hoa" nào cho anh?
Phượng quen dần với công việc của người y tá lúc nào cũng bận rộn và căng thẳng trong bệnh viện. Là một y tá giỏi, siêng năng, chịu khó học hỏi, Phượng có thêm những đức tính cần thiết đó là sự ân cần, kiên nhẫn và dịu dàng với bệnh nhân. Phượng được bác sĩ Daniel trưởng khoa mổ đặc biệt lưu ý và chấp thuận cho Phượng là y tá phụ trong ê kíp mổ của ông. Có những ca mổ kéo dài đến khuya hoặc những ca trực đêm, Phượng có dịp kể cho ông nghe về cuộc đời bất hạnh của mình. Phượng biết thêm về đời tư của vị bác sĩ ít nói này. Ông lớn hơn Phượng mười hai tuổi, là bác sĩ giỏi trong ngành hải quân, vợ và đứa con gái chết vì tai nạn xe hơi, ông tình nguyện sang Việt nam công tác. Sang năm ông sẽ về Mỹ vì hết hợp đồng. Với chính sách "Việt nam hóa chiến tranh" và Hiệp Định Paris sắp ký kết, người Mỹ đang chuẩn bị rút dần về nước.
Vào một đêm trực chỉ có vài người y tá, Daniel cùng có mặt, Phượng đã suýt bật khóc vì cảm động trước lời cầu hôn bất ngờ của Daniel. Vị bác sĩ này thố lộ đã để ý đến cô y tá người Việt nam xinh đẹp và hiền hòa này trong những ca mổ. Ông tình cờ chứng kiến hình ảnh Phượng chăm sóc những người thương binh làm ông xúc động. Ông nói không phải chỉ là hoàn thành công việc mà thôi, Phượng đến với các bệnh nhân bằng tất cả trái tim của mình. Cô chia sẻ nỗi đau đớn về thể xác và tinh thần của họ trong từng mũi kim nhẹ nhàng, từng viên thuốc khó uống, từng lời nói an ủi dịu dàng, từng cử chỉ vỗ về, dỗ dành. Những người thương binh Mỹ trong bệnh viện Hải Quân này đều quý mến cô y tá người Việt có cái tên Mỹ Sophie dễ thương này. Họ chưa hiểu hết cảnh đời của Phượng. Chồng Phượng cũng là lính. Cô thương những người lính như thương Quang, thương bản thân và thương cuộc đời bất hạnh của mình.
Phượng chấp nhận lời cầu hôn của Daniel với một điều kiện Daniel bảo lãnh bà mẹ, chị Phương và bé Sơn cùng sang Mỹ. Căn nhà lớn năm phòng ở đường North Smith, Minnesota là tổ ấm của gia đình Phượng. Chị Phương vừa đi học vừa đi làm một thời gian, sau đó chị dọn về Cali mở một tiệm ăn với người yêu cũ. Phượng đi học lại. Bà mẹ ở nhà nội trợ trông nom nhà cửa, chăm sóc Sơn. Daniel làm việc ở United Hospital gần nhà. Bé Sơn càng lớn càng quấn quít Daniel. Suốt ngày Sơn đeo theo ông bố dượng vui tính. Daniel rất thương thằng con nuôi học giỏi và lễ phép. Theo gương học tập và chỉ dạy của ông bố dượng, Sơn học ngành y, sau này trở thành bác sĩ Shawn Tran chuyên khoa mổ tim ở St John s Hospital. Bốn mươi năm trôi qua, cái chết thảm khốc của Quang và niềm đau nỗi khổ của Phượng dần dần phôi pha theo thời gian nhờ vào tình yêu, sự bao dung và lòng tử tế của người chồng Mỹ tốt bụng đã cưu mang gia đình Phượng, mang đến cho Phượng một cuộc sống mới, êm đềm và hạnh phúc.
Một ngày, Phượng nhận được cú phone bất ngờ của chị Phương. Bên kia đầu dây, giọng chị lanh lảnh:
- Phượng ơi, tao nói chuyện này mầy bình tĩnh nghe đừng có xỉu nghen. Tao vừa đọc báo. Có người viết về cái chết của thằng Quang chồng mày hồi xửa hồi xưa. Có tấm hình thằng Quang chụp hồi còn trẻ. Mày tin không, má thằng Quang còn sống. Gia đình thằng Quang qua Mỹ ở khu Việt nam gần tiệm của tao. Bài báo kể người ta đào được xác chiếc máy bay rớt và hốt cốt mang về để ở viện bảo tàng nào đó trên Washington D. C.Chuyện dài dòng lắm. Tao ra bưu điện gửi cho mầy bài báo này liền. Overnight mai mầy nhận được. Bình tĩnh nghen mậy. Chuyện đâu còn đó. Khoan nói cho thằng Sơn biết. Mầy đọc báo xong rồi mình tính.

Suốt đêm qua Phượng mất ngủ, mong cho trời mau sáng để nhận thư tốc hành của bưu điện. Người đưa thư trao bì thư hình con én màu xanh và yêu cầu Phượng ký tên.Tay Phượng run run khi cầm cây viết.Cầm tờ báo trong tay, Phượng lật tới, lật lui, tìm mãi mới thấy cột báo. Tấm hình Quang hồi hai mươi tuổi, nét mặt đẹp trai, nghiêm nghị, ánh mắt buồn xa xôi, oai vệ trong bộ treillis, túi áo trái có in tên "Quang" màu trắng. Bài báo viết chi tiết về chuyến bay bị bắn rơi ở Hạ Lào, về bà mẹ chồng Phượng chưa hề gặp mặt và một chi tiết quan trọng là viện bảo tàng Newseum ở Washington D. C hiện nay đang lưu trữ hài cốt của những người tử nạn.
Phượng nói với Shawn Phượng về Cali thăm dì Phương. Hai chị em đến tòa soạn gặp người phóng viên và xin địa chỉ nhà má Quang. Cuộc gặp gỡ đầu tiên, cả nhà bà Tư nhìn Phượng với cặp mắt tò mò, xa lạ và nghi ngờ. Bà Tư, vợ chồng Quyền và Quyên không tin có chuyện một người phụ nữ, hơn bốn mươi năm đến gia đình bà tự nhận là vợ của Quang. Họ không tin Quang có một đứa con trai ngoài bốn mươi tuổi. Họ không tin bốn mươi năm trôi qua trên đất nước Mỹ này lại có cuộc gặp gỡ ly kỳ ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Khi Phượng đem tất cả hình ảnh của Quang và Phượng chụp hồi còn trẻ ở Đà nẵng, hình thằng Sơn hồi còn nhỏ cho đến khi tốt nghiệp ra trường đậu bằng bác sĩ, nhất là tấm hình Quyền cung cấp cho người phóng viên đăng trên báo so với tấm hình ố vàng Phượng cầm trong tay là một, bà Tư bật khóc nức nở như một đứa trẻ. Xúc động, mừng vui, hạnh phúc dâng trào trong lòng bà mẹ già vào cuối đời. Từ đó, Phượng thường xuyên gọi điện thoại về Cali thăm bà. Tháng sau, Phượng dẫn Shawn về giới thiệu thằng cháu đích tôn của dòng họ Trần. Năm ngoái hai mẹ con về Cali. Năm nay, thằng Shawn về một mình thăm bà nội
3. Sau đây là lời kể chuyện của nhân vật chính Trần Mỹ Sơn.
Tôi tên là Shawn Tran. Daddy đặt tên "Shawn" có nghĩa là "God is gracious ". Daddy nói tôi là ân sủng của Chúa mang đến cho Daddy. "Shawn" nghe giống như tên "Sơn", Trần Mỹ Sơn. Ngoại nói "Mỹ" có nghĩa là đẹp, "Sơn"có nghĩa là ngọn núi. Tên tôi là một ngọn núi đẹp. Mẹ nói Daddy chỉ là cha nuôi, cha ruột của tôi mất từ khi tôi còn trong bụng mẹ. Daddy đưa mẹ, bà ngoại, dì Phương và tôi qua Mỹ. Họ nuôi tôi khôn lớn. Tôi theo học nghề bác sĩ mổ tim của Daddy. Cả nhà ai cũng muốn tôi học nghề này để sau này chữa tim cho mọi người.

Sau chuyến đi Cali thăm dì Phương, mẹ kể rằng mẹ đã gặp gia đình bà nội ở Cali qua một tờ báo Việt ngữ. Trong chương trình POW (prisoners of war) và MIA (missing in action) tìm hài cốt của những người Mỹ mất tích thời chiến tranh Việt nam, họ đã tìm được những dấu tích về cái chết của ba tôi. Hiện nay, chúng được lưu giữ ở Viện Bảo Tàng Newseum ở Washington D.C. Mẹ đọc bài báo cho tôi nghe. Dù mẹ chưa nói, qua ánh mắt của mẹ, tôi hiểu rằng tôi phải đi một chuyến về Cali với mẹ, đến thăm bà nội, người đàn bà đã khóc nhiều về cái chết của ba tôi.
Từ Cali về, tôi tìm đọc những tài liệu về POW, MIA, những bài viết của các ký giả trong chuyến đào bới tìm dấu tích của chiếc trực thăng lâm nạn, về chiến tranh, cuộc hành quân Lam sơn nhất là về buổi lễ tưởng niệm và vinh danh những người bị mất tích tổ chức ngày mười tháng tám năm hai ngàn mười ở viện Bảo Tàng Newseum.
Bài viết của ký giả Richard Pyle viết về buổi lễ và những người tham dự. Họ là ai? Là những người mẹ, những người vợ, những đứa con đến từ Việt nam, Canada xa xôi, tay cầm những tấm "plaque", đầm đìa những giọt nước mắt khi ban tổ chức nhắc đến tên tuổi và vinh danh những người thân của họ đã hy sinh. Xạ thủ Trần Vinh Quang không được nhắc đến. Gia đình bà nội, mẹ tôi và tôi không được mời đến. Ban tổ chức buổi tưởng niệm này đâu biết rằng sau bốn mươi năm, gia đình trung sĩ xạ thủ Trần Vinh Quang đang sống ở nước Mỹ? Và tôi, đứa con rơi của xạ thủ Trần Vinh Quang là một công dân Mỹ, tìm được tông tích của bà nội và ba tôi năm ngoái trong một bài báo Việt ngữ ở cộng đồng người Việt ?
Sau khi thăm bà nội ở Cali, tôi đã đến thăm Viện Bảo Tàng Newseum ở Washington D. C. Trong chuyến bay bị bắn rơi ở Hạ Lào, có ba người ký giả Mỹ và một người Nhật. Tôi đã đọc thấy tên tuổi và hình ảnh họ được gắn trên bức tường kính gọi là "Journalists Memorial Wall 1971 Vietnam War". Viện bảo tàng này là nơi lưu giữ những chứng tích và vinh danh những ký giả Mỹ và những ký giả quốc tế đã hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ. Điều gì đã khiến họ lao vào cái nghề nguy hiểm này? Sự đam mê nghề nghiệp, sự khao khát muốn ghi nhận những tin tức mới, nóng hổi nhất, trung thực nhất. Họ muốn những có "big shot" là những tấm hình ý nghĩa, độc đáo, đầy ấn tượng về sự tàn khốc của chiến tranh gửi đến những người ở sau mặt trận. Viện bảo tàng Newseum đã làm công việc đầy tính nhân đạo khi vinh danh những người chiến sĩ không mang súng gan dạ và thầm lặng này.
Nhắc đến bà nội, tôi mê những câu chuyện bà kể về ba tôi. Bà có tài kể chuyện sống động, chi tiết và hấp dẫn. Tôi không ngờ bà nhớ nhiều kỷ niệm về ba tôi đến thế. Hình như trong ba người con trai, ba tôi là đứa con cứng đầu và làm cho bà khóc nhiều nhất nhưng cũng là đứa con bà thương nhất. Ba tình nguyện chuyển ngành an ninh sang học bắn súng để ra tác chiến ngoài mặt trận đối với bà là một sự chọn lựa kinh khủng và ngu xuẩn làm bà đau lòng. Bà không muốn mất con.
Điều gì khiến ba tôi chọn lựa giữa công việc an ninh nhàn nhã ở hậu phương với đời lính gian khổ đầy hiểm nguy ngoài mặt trận? Lý tưởng? Tổ quốc ? Hay cả hai? Lần đầu tiên đi với mẹ về Cali gặp bà nội, bà đã cho tôi nguồn cảm hứng muốn tìm hiểu về ba,về cái chết của ba, về cuộc chiến tranh trên quê hương mà bấy lâu nay tôi hững hờ, quên lãng. Tôi lớn lên ở xứ Mỹ. Tôi không có quá khứ. Tương lai của tôi là những dự tính và ước mơ.
Tôi sinh ra tại Đà nẵng, vùng đất của quê ngoại, trên bản đồ quân sự thuộc vùng một chiến thuật. Cuộc chiến bắt đầu từ năm một chín năm mươi lăm đến một chín bảy lăm. Năm một chín bảy mốt là năm ba tôi mất, lúc đó tôi còn trong bụng mẹ được ba tháng tuổi. Thật là trễ tràng làm sao! Hơn bốn mươi năm trôi qua, bây giờ tôi mới có dịp tìm hiểu về chiến tranh ở đất nước tôi và biết đây là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai thế lực, hai chủ nghĩa tư bản và cộng sản kéo dài hai mươi năm. Ở miền nam, Mỹ và phe Đồng Minh ủng hộ chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Bên kia dòng sông Bến Hải, Liện Xô và Trung quốc ủng hộ hai phe, tuy hai mà là một: Cộng sản Bắc Việt và tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Trải qua nhiều giai đoạn, cuộc chiến tranh này có những cái tên như là "chiến tranh đặc biệt" (1960-1965) "chiến tranh cục bộ" (1965-1968) "Việt nam hóa chiến tranh" (1969-1972). Ngày ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm là ngày cuộc chiến tranh chấm dứt. Toàn bộ miền Nam rơi vào tay Cộng sản.
"Việt nam hóa chiến tranh" có thể hiểu đây là cuộc chiến của người Việt nam.Có người nói người Mỹ đã bỏ rơi miền Nam và đồng minh. Họ rút lui, không chủ động tham gia cuộc chiến bằng nhân sự. Họ chỉ viện trợ vũ khí. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải tự lực chiến đấu. Theo lời mẹ kể, với lý tưởng chiến đấu quyết bảo vệ miền Nam và lòng yêu nước chân thành, ba tôi tình nguyện lao vào cuộc chiến đầy hiểm nguy này và biết rằng sự ra đi không hẹn ngày về.
Vào thời điểm đó, Cộng sản miền Bắc và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chuyển mục tiêu sang chiến trường Lào và Cam puchia, xây dựng căn cứ địa làm bàn đạp tấn công miền Nam. Cuộc hành quân Lam Sơn 719 bắt đầu vào ngày tám tháng hai năm một chín bảy mốt. Hai ngày sau, chiếc máy bay trực thăng H- U1 Huey không phải là trực thăng chiến đấu hay trực thăng võ trang có bọc thép tốt và chống đạn xe tăng. Đây chỉ là loại trực thăng vận tải vỏ thép mỏng, võ trang yếu, chở các phóng viên và các cấp chỉ huy đi thị sát chiến trường. Trong chuyến bay có mười một người, ba tôi là tay súng giỏi nhưng bất ngờ lọt vào mạng lưới phòng không mạnh và dầy đặc của địch, lại thêm sương mù, chiếc trực thăng trúng đạn và bốc cháy.
Năm 1992, những người trong chương trình POW và MIA có nhiệm vụ tìm kiếm những người Mỹ mất tích đã đến Hạ Lào nơi chiếc trực thăng rớt. Năm 1994, họ tiếp tục công việc đào bới. Cùng với một số tin tức được cung cấp từ những bạn đồng đội trong không đoàn 41, phi đoàn 213 còn sống ở Mỹ, họ đã định vị đúng tọa độ và đã tìm được những mảnh kính của máy chụp hình, đồng hồ và những mảnh thép vỡ của máy bay. Họ đã sàng lọc những khúc xương cốt lẫn lộn với đất đá và đem về lưu trữ tại Viện Bảo Tàng. Xương cốt này không phải của một ai mà là của mười một người hy sinh trong đó có ba tôi. Nó không thuộc về cá nhân hay gia đình nào, nó thuộc về lịch sử của nước Mỹ.
Món quà tôi mang về cho bà nội lần này là những hình ảnh của Viện Bảo Tàng Newseum. Tôi sẽ nói với bà nội ba tôi đã được an nghỉ ở một ngôi nhà gần nhà của Tổng Thống Mỹ. Ngôi nhà ấy vĩ đại, có mười tầng lầu, mười lăm rạp chiếu bóng, mười bốn hành lang và hàng ngày có hàng chục ngàn người đến đây thăm viếng. Bà nội hãy yên lòng. Con trai cứng đầu của bà được an nghỉ ở một trong những nơi danh dự nhất của nước Mỹ. Còn một điều nữa, bà nội hãy tin rằng với tất cả chứng cứ về liên hệ huyết thống và hình ảnh, với sự công bằng và trung thực, tôi sẽ làm đủ mọi cách để Viện Bảo Tàng Newseum cần phải có một buổi lễ tưởng niệm cho ba tôi. Người cuối cùng phải là người đặc biệt. "The last but not the least". Bà nội hãy giữ sức khỏe để một ngày không xa, gia đình bà nội, mẹ và tôi sẽ đếnViện Bảo Tàng Newseum tham dự buổi lễ vinh danh trung sĩ Trần Vinh Quang. Nỗi đau khổ của bà nội và mẹ sau bốn mươi năm phải được đền bù xứng đáng trong lịch sử nước Mỹ.
Tôi sẽ nói với cậu Quyền lần này tôi muốn cậu dẫn tôi đến thăm một địa danh lịch sử ở khu Little Saigon nơi có cộng đồng người Việt sinh sống đó là tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ "Vietnam War Memorial" ở Westminster. Hai người lính Mỹ, Việt cầm súng đứng bên nhau bên cạnh hai lá cờ Việt, Mỹ vẫn là hình ảnh đẹp, oai hùng và ý nghĩa. Trong tâm tôi sẽ không dấy lên chút tình cảm căm hận nào.Trái lại, đầy sự ngưỡng mộ và biết ơn. Người lính Việt Nam Cộng Hòa đó cũng chính là hình ảnh của ba tôi ngày xưa. Ba tôi chiến đấu vì lá cờ vàng cũng như những người lính Mỹ đã chiến đấu vì nền độc lập, tự do của nước Mỹ và cho nhân loại trong khối tự do.
Năm nay tôi đã bốn mươi ba tuổi. Đã hơn nửa đời người. Không quá muộn màng cho tôi khi tôi tìm về với cội nguồn của gia đình, quê hương và dân tộc mà trước đây tôi như một người xa lạ. Tôi muốn cám ơn bà nội, cậu mợ Quyền, dì Quyên những thân tộc đã nối lại sợi dây huyết thống thiêng liêng của dòng họ Trần. Tôi cảm nhận được tình thương quá bao la và đặc biệt bà dành cho ba tôi và đứa cháu nội này. Một ngày nào đó bà sẽ từ giã cõi đời. Tôi biết chắc một điều bà sẽ ra đi thanh thản, bình yên vì theo lời di chúc của bà, tôi sẽ thay ba tôi ôm chiếc hình của bà trong ngày tang lễ.
Tôi muốn cám ơn bà ngoại, mẹ tôi và dì Phương đã chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ tôi từ tấm bé cho đến khi tôi trưởng thành. Những chai sữa ngọt đầu đời là những ngày dì Phương dãi dầu mưa nắng ngoài chợ trời đem về cho tôi.Tôi nói và đọc được tiếng Việt là nhờ những buổi hai bà cháu cùng ngồi rù rì học với nhau ngoài vườn và từ những câu chuyện cổ tích tôi nghe hoài không chán. Và mẹ tôi, người mẹ tuyệt vời, tôi không có lời lẽ nào hơn để ca ngợi bà. Bà đã mạnh mẽ đứng lên vượt lên trên nổi khổ đau giữ lại cho tôi hình hài này.
Từ trong đáy lòng, tôi chân thành cám ơn Daddy Daniel, cha nuôi người Mỹ của tôi. Ông là cây cổ thụ cho gia đình tôi nương dựa bốn mươi năm qua. Danh vọng, địa vị, tiền bạc, hạnh phúc, tình thương tôi có được ngày hôm nay phát xuất từ tấm lòng nhân hậu và bao dung của ông.
Cuối cùng là những lời xin lỗi muộn màng của tôi với Ba.
Hơn bốn mươi năm qua, trong tâm tưởng, tôi đã quên tôi còn một người cha.Tôi không giữ chút kỷ niệm gì trong ký ức về ông vì ông đã ra đi trước khi tôi cất tiếng khóc chào đời.Thật là kỳ diệu khi gặp lại bà nội. Bà là chiếc cầu nối vững vàng, là bàn tay nắm dịu dàng và ấm áp dẫn tôi đến với Ba, là chất keo dính ngọt ngào làm cho hình ảnh Ba như sống dậy trong lòng tôi.Giờ đây, nhắm mắt lại, tôi có thể hình dung hình ảnh ông hiện ra rõ ràng, thân thiết, gần gũi và đầy tình yêu thương.
Tôi rất hãnh diện về Ba tôi, người lính Việt Nam Cộng Hòa, anh dũng, kiêu hùng đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ miền Nam. Lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công ơn ông và những người đồng đội. Ông mãi mãi là hình ảnh đẹp nhất trong lòng tôi, giọt máu rơi của ông, người lính chết trẻ.
Phùng Annie Kim