Thursday, March 31, 2016

Quân phục và Nghi Lễ

Hình ảnh và nhận xét lượm lặt từ nhiều nguồn khác nhau, xem cho vui, nên đây không phải một bài viết và cũng không có mục đích thuyết phục ai cả về:                        
Quân phục và Nghi Lễ
Trước 1975 mọi chi tiết về quân phục hoặc nghi lễ đều do Bộ Tổng Tham Mưu ấn định. Sau 1975 QLVCH bị tan rã và các cưụ quân nhân cố gắng tập họp lại thành hội đoàn, tổng hội đễ cùng sinh hoạt với nhau. Tuy nhiên vì các hội trưởng, tổng hội trưởng kém thâm niên, và trí nhớ kém đi theo thời gian nên không đặt thành vấn đề trong việc ăn mặc quân phục hay nghi lễ trong các buổi lễ. 
 
Cách đây vài chục năm ra hải ngoại, các cưu quân nhân VNCH tổ chức lễ không chú trọng lắm về nghi lễ vì khi tan lễ ai về nhà nấy là  quên hết. Bây giờ với kỷ thuật càng ngày càng tối tân, với digital photography, youtube, DVD v.v….những gì chúng ta thu trong các buổi lễ sẽ tồn tại hằng mấy trăm năm và đôi khi có giá trị lịch sữ.
Quân đội VNCH, chiếu Huấn Thị năm 1971 của Bộ TTM QLVNCH và truyền thống của các quân đội các quốc gia trên thế giới , quân nhân không bao giờ được đội mũ trong nhà  (trừ toán quốc quân kỳ).  CQN VNCH sau 1975 ở hải ngoại (có lẽ vì rời quân ngũ lâu quá nên quên truyền thống quân đội) tự cho cái tự do đội mũ trong nhà kể cả khi ngồi ăn, khiêu vũ và ngay cả trong nhà quàng nên không giống ai cả.
Quân đội Hoa Kỳ
    
Inline image  Inline image  Inline image Inline image Inline image Inline image
Inline image  Inline image  Inline image
Trong nhà quàn không được đội mũ
 Inline image
Quân đội Âu Châu
Inline image
Quân đội Bắc Hàn
Inline image
Quân đội Pháp
Inline image
Quân đội Trung Cộng
Inline image
2015-Các đô đốc Ấn Độ và Hoa Kỳ cắt bánh trong dạ tiệc và khi nói chuyện trước micro.
Inline image  Inline image
2015-Quân đội Singapore và Hoa Kỳ
Inline image
Quân Lực VNCH trước 1975 
1963-Hội Đồng Quân Lực
   Inline image Inline image Inline image
1973-Chiến sĩ xuất sắc tại Dinh Độc lập (đang được ân thưỡng và ngồi bàn ăn không đội mũ) .
Dù dã chiến vẫn không đội nón khi ngồi ăn
Inline image 
Cựu Quân Nhân-VNCH sau 1975
  Inline image  Inline image      
Hình trên: Trong nhà quàng, CQN VN tỵ nạn cứ đội mũ cấp hiệu Alpha, mũ cấp tá, đội mũ trong dạ tiệc của quân đội Hoa Kỳ
 Inline image   Inline image Inline image
Đội mũ khi ngồi bàn ăn dạ tiệc
Inline image 
Hình cho thấy sự khác biệt   
Tập Thễ Chiến Sĩ Cali đội nón cả trong nhà,  quên cấp hiệu (các ông này là Bạn Dân) không phải Quân Đội 
   
   Inline image
       
Bàn đễ mũ khi vào cửa và cách đễ mũ khi không có bàn
 Inline image Inline image
Inline image  Inline image
2015- Hội HQ Cưủ Long  Nam Cali 
Inline image
2015-Hội Cựu SVSQ HQ Lưu Đày  Houston
Inline image
2016-Hội trưởng làm đúng-lên micro không đội mũ

 Inline image  Inline image
2016-Hội HQ Washington-Bàn đễ mũ và sỉ quan không đội mũ trong phòng (đúng)
Inline image

Monday, March 7, 2016

Những người chết sau cùng trong cuộc chiến .

Góp nhặt trên Net, chuyển anh chị em đọc để tri ân những người đã chết cho chúng ta được sống, những người đã hy sinh để chúng ta được an toàn.
Xin thắp một nén hương cho người Thiếu Úy Nhảy dù tử trận giây phút cuối cùng của cuộc chiến.

Trường Sơn Lê Xuân Nhị


Những người chết sau cùng trong cuộc chiến .

Tác giả ghi lại những gì diễn ra trước mắt mình, ngay trước nhà mình, ngay trong khu phố mình sống, những giờ phút cuối cùng của miền Nam. Ngày ấy, tác giả vừa tròn 15 tuổi.
Viết cho ngày 30 Tháng Tư năm ấy.
Viết cho những người lính cấp bậc nhỏ, nhưng hy sinh lớn.
Viết cho những người lính vô danh,
Vị quốc vong thân lúc thành mất nước tan.
Ai cũng sống cả một đời, nhưng chết chỉ một lần.
Các anh, những người lính nhỏ,
Các anh, những người lính vô danh, nhưng hy sinh vĩ đại!
Suốt 40 năm qua, tôi đã đọc, đã nghe và cũng đã xem nhiều về những hy sinh của các tướng lãnh, sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hòa khi nước mất nhà tan vào tay Cộng Sản trong ngày 30 Tháng Tư đau buồn của năm 1975. Lúc ấy tôi được 15 tuổi, chưa trưởng thành, chưa đủ khôn và đủ hiểu biết chuyện đời, nhất là chuyện thời cuộc. Ở tuổi này, tuy chưa đủ lớn, ký ức mình cũng đủ “già dặn” để không quên điều xảy ra. Và trong ý nghĩ đó, có một câu chuyện cho đến giây phút này vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi.
Mấy mươi năm qua, tôi cho đó là “chuyện nhỏ.” Sau này, tôi chợt nhận thức, rằng chuyện nhỏ này lại có ý nghĩa vô cùng to lớn mà hôm nay tôi muốn ghi lại và chia sẻ với những ai quý tự do, yêu độc lập và chuộng
hòa bình.

Lúc ấy là 09 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975!
————————————————�� �—————————–
Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm
tháng của Dì Mười, khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi…
Thời khắc ấy cách đây đúng 40 năm, trong cảnh hỗn mang của ngày tàn cuộc chiến, trong xóm tôi ở Ngã Năm Bình Hòa-Gia Ðịnh, bỗng xuất hiện bốn năm người lính Nhảy Dù. Họ chạy lúp xúp men theo vách tường nhà Dì Sáu của tôi rồi dừng lại trước nhà tôi. Tất cả đều còn rất trẻ và người họ mang đầy súng ống đạn dược. Áo quần họ bám đầy bụi đỏ. Chỉ cần nhìn thoáng qua, ai cũng biết những người lính này mấy ngày trước đây đã từng xông pha trận mạc. Họ đứng trước khoảng đất trống, ngó dáo dác một đỗi, thì người lính có mang một bông mai trên cổ áo nói, như ra lệnh:
- Anh em đào ở đây đi.
- Tuân lệnh thiếu úy!
Một người trong họ trả lời. Thế là các anh tháo gỡ trên vai xuống mấy cái xẻng cá nhân. Với thao tác nhanh lẹ, phút chốc họ đã biến chúng thành những cái cuốc và bắt đầu đào hố cá nhân.
Trong nhà, má tôi lo lắng ra mặt. Bà đang phân vân chẳng biết có nên di tản không và nếu đi thì chưa biết phải đi đâu. Bất ngờ, bây giờ thấy lính tráng chuẩn bị hầm hố chiến đấu trước cửa nhà, bà thêm hoảng sợ.
Tuổi thiếu niên đang lớn, hiếu kỳ, tôi tò mò bước ra sân, tiến gần đến khoảng đất trống ngồi chồm hổm xem mấy người lính làm việc. Lâu lâu có tiếng đại bác vọng về, tiếng súng bắn lẻ tẻ vang lên đây đó làm cho bầu không khí chết chóc thêm ngột ngạt, hình ảnh chiến tranh thêm rõ nét.
Dân trong xóm tôi nhốn nháo chạy tới chạy lui, mặt mày ai nấy đều lấm la lấm lét khi đi ngang qua nơi mấy người lính đang làm việc. Bộ mặt của thành phố Sài Gòn lúc đó như người bệnh nặng sắp mất.
Ðộ chừng nửa tiếng sau, khi hố được đào khá sâu, một người lính đứng lên, mồ hôi nhễ nhại trên mặt. Anh đưa cánh tay lên cao, quẹt lấy mớ tóc bê bết trên trán để lộ một cái sẹo thật to nơi đuôi mắt phải, đoạn nhìn tôi:
- Em trai chạy vô nhà lấy cho anh xin miếng nước uống đi em.
Tôi đứng dậy co giò phóng vào nhà. Ít phút sau tôi mang ra cho các anh một ca nước đá bự, một cái ly và một ít kẹo đậu phọng với bánh in mà má tôi đưa thêm. Họ ăn, họ uống, họ nói cười vui vẻ, cơ hồ như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ có người thiếu úy là không ăn uống gì cả.
Người thiếu úy này cũng còn trẻ và đẹp trai như Tây lai nhưng dáng dấp rất phong trần, uy dũng. Tôi đoán chừng tuổi đời anh chỉ khoảng 23, 24 gì thôi. Anh có vẻ như đang lo lắng trước tình hình chiến sự lan rộng nên nét mặt luôn phủ một lớp sương mờ căng thẳng.

Nắng lên khá cao…
Bỗng một tiếng nổ lớn từ đâu dội lại rung chuyển cả mặt đất. Tôi hoảng hốt. Mấy người lính ngưng đào, ngẩng đầu nhìn quanh. Viên thiếu úy ngó về cuối xóm một thoáng rồi nói với đồng đội:
- Anh em cứ tiếp tục đi, để tôi xuống dưới này xem sao.
Người thiếu úy xốc khẩu M-16 đang mang trên vai lên cao và bỏ đi trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Bên trong, má tôi gọi tôi vào và không cho ra khỏi nhà, vì sợ đạn lạc. Xế trưa, lúc ông Dương Văn Minh ra lệnh cho binh sĩ buông vũ khí và đầu hàng vô điều kiện thì má tôi vội vã kêu tôi cầm cái radio-casette hiệu Sanyo ra cho những người lính bên ngoài nghe. Trong khi họ còn sững sờ thì viên thiếu úy từ dưới đang vội vã đi lên. Một anh lính trẻ giơ chiếc radio về viên sĩ quan, hớt hải, nghẹn ngào. Anh nói như sắp khóc:

- Thiếu úy, thiếu úy, ông Minh đầu hàng rồi. Mình thua rồi!
Viên sĩ quan khựng lại một lúc rồi chăm chú nhìn vào cái radio trong im lặng não nề. Tiếng ông Minh kêu gọi đầu hàng cứ được lập đi lập lại hoài khiến người sĩ quan trẻ nổi cáu:
- Ð.m. sao chưa đánh đấm gì đã lo đầu hàng?
Người thiếu úy giận dữ quát tháo, gương mặt đan xen nỗi đau và buồn.  Sau một đỗi phân vân, cuối cùng thiếu úy hạ giọng:
- Thôi đi.
Thế là họ bỏ chiến hào đang đào dang dở và hấp tấp chạy trở ra đường.  Ðộ chừng một tiếng đồng hồ sau, người ta nghe nhiều tiếng súng AK-47 nổ giòn giã rồi tiếng M-16 bắn liên thanh đáp trả. Lẫn lộn trong đó thỉnh thoảng có cả tiếng súng M-79 đệm vào. Ðứng trong sân nhà nhìn ra, tôi thấy có vài cột khói đen bốc lên cao.
Từ bên ngoài, vài người trong xóm tôi tất tả chạy về. Gặp má tôi đang đứng lấp ló nơi cửa, họ báo:
- Ðang đánh nhau ở ngoài Ngã Năm dữ lắm cô Ba.
Ngã Năm Bình Hòa là giao điểm của năm con đường từ năm hướng khác nhau. Năm Mậu Thân 1968, nhiều trận đánh đã diễn ra ở đây khi Lực Lựợng Bảo Vệ Biệt Khu Thủ Ðô của quân đội VNCH ngăn chặn các mũi tiến công của cộng quân từ bên ngoài đổ về qua mấy cửa ngỏ như Gò Vấp, Cầu Bình Lợi, Lò Vôi hay Ðồng Ông Cộ… nên nó trở thành một trọng điểm chiến lược vì là một trong những lộ chính tiến vô thủ đô Saigon.
Chiều cùng ngày, khi lịch sử đã an bài, dân chúng bắt đầu túa ra đường phố. Lớp thì đón quân “Giải Phóng,” lớp khác lại mừng đất nước “Ðộc Lập,” trong khi tôi thì tò mò theo người cậu họ ra xem tình hình ngoài ngõ. Nghe thiên hạ bàn tán xôn xao có lính chết ở chỗ Ngã Năm Bình Hòa, cậu cháu tôi lần bước tới quan sát. Một đám đông đang vây quanh trước Nhà Thuốc Tây Tiến Thành, là nhà thuốc của má thằng bạn tôi. Cố gắng chui vào đám người hiếu kỳ ấy và luồn lách một tí, tôi tới được bên trong. Giữa vòng người nọ là xác một người lính nhảy dù nằm chết cứng. Ngực thủng một lỗ lớn, chiến bào loang đầy máu và đã chuyển sang nâu sậm nhưng đôi mắt anh vẫn mở trừng trừng. Nhìn kỹ, tôi chợt giật mình: người đó chính là viên thiếu úy ban sáng!
Ðang còn ngỡ ngàng, tôi bỗng thấy có một thanh niên vẹt đám đông bước lại gần xác người thiếu úy. Anh mặc một chiếc quần tây đen ngắn củn và áo thì rộng lùng thùng như đồ của ai cho chớ không phải của anh vậy.  Anh khom người xuống, giơ tay vuốt nhẹ nhàng lấy khuôn mặt lạnh vô hồn kia. Ðôi mắt từ từ nhắm lại và nơi khóe miệng một dòng máu nhỏ rỉ ra bên mép. ường như chàng thanh niên lâm râm khấn vái điều gì đó nho nhỏ, đoạn anh đứng lên, bước ra với đôi mắt đẫm lệ. Tôi nhận ra ngay anh chính là người lính xin nước tôi lúc sáng, nhờ vết sẹo to nơi đuôi mắt.
Thiên hạ bàn tán sôi nổi khi dòng máu tươi nơi khóe miệng của thi hài đã lâu kia rỉ ra. Người miền Nam vốn duy tâm, thiên hạ tin rằng đấy là một điều linh thiêng vì vị sĩ quan này có lẽ còn có chuyện chi oan ức.  Ðột nhiên, chị Bảy bán tạp hóa sau lưng tôi lên tiếng kể lể với những người xung quanh:
- Ông thiếu úy này và mấy người lính của ông ta nấp ở vách tường bên kia kìa. Ðứng trông cửa sổ nhà nhìn qua, tui thấy mấy ổng bắn xuống phía mấy ông “Việt Cộng” ở dưới Ðồng Ông Cộ quá trời. Cuối cùng chắc thấy không xong, ổng biểu mấy người lính của ổng chạy đi còn ổng thì vẫn ở lại. Rồi hình như ổng bị thương sao đó nên bò sang nấp vô Cổng Ðình Thần Bình Hòa này nè. Hai bên còn bắn nhau một lúc lâu nữa và khi không còn nghe tiếng súng thì tui dòm ra thấy ổng lết tới đây rồi chết luôn.
- Hết chiến tranh rồi mà chết, tội nghiệp quá! Không biết có gia đình vợ con gì không? Thân nhân mà hay được chắc là buồn lắm.
Ông già bên cạnh chị Bảy nói theo làm mọi người mủi lòng trước sự hy sinh oai hùng của viên thiếu úy. Chợt một bà cụ cầm tấm chăn, không biết từ đâu, tách đám đông bước vô phủ trùm lên xác người thiếu úy và mếu máo:
- Dù con không có họ hàng gì với bà nhưng bà thấy con chết thảm bà thương quá. Tội nghiệp, con cái nhà ai vậy không biết nữa. Thôi con chết rồi, con hãy thanh thản ra đi và nếu hồn con có thiêng thì phù hộ cho bà con nơi đây được nhiều an lành nha con!
Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi. Ngẩng mặt lên bắt gặp tôi đang nhìn anh trân trối, anh vụt bỏ đi.
Ngó cho đến khi bóng dáng xiêu vẹo của anh khuất nơi cuối chợ, tôi thấy lòng nao nao buồn. Cảm khái trước một nỗi niềm mất mát bao la của tình đồng đội thiêng liêng cao quý lẫn tiếc nuối cuộc đời binh nghiệp nữa đường gãy đổ, tâm hồn tôi tràn ngập cả một sự chua chát to lớn.
Nhưng tôi đâu biết rằng, đó chỉ là khởi điểm của một trang sử đau thương cho dân tộc, cho hàng vạn sinh linh sau này.

Charleston, South Carolina
Triều Phong

Wednesday, February 24, 2016

H.O.: Một Sự Lộng Giả Thành Chân

Ngày 25-2-2010, trên báo Người Việt Online có một bài báo với tựa đề “20 Năm Chương Trình H.O.: Mọi Người Viết Về Hát Ô”. Nguyên văn đoạn mở đầu của bài báo như sau: “Kể từ số báo hôm nay, Người Việt bắt đầu đăng các tác phẩm liên quan đến đề tài Hát Ô. Chương trình này sẽ kéo dài ba tháng từ nay đến ngày 1 tháng 6, 2010.”
Hưởng ứng chương trình nói trên,  ngày 26-2-2010, Ông Vũ Quý Hạo Nhiên đã viết một bài báo có tựa đề “Cha đẻ chương trình H.O. không dùng chữ H.O.” được phổ biến  trên Người Việt Online có đoạn mở đầu như sau:
“Ông Robert Funseth, nhà ngoại giao Hoa Kỳ được coi là cha đẻ của chương trình định cư cho cựu tù nhân chính trị Việt Nam, giật mình ngạc nhiên khi được hỏi, Ông có biết người Việt chúng tôi gọi chương trình đó là H.O. không?”
Ông Robert Funseth giật mình ngạc nhiên là đúng bởi vì:
a/ Tại sao người Việt lại đặt tên là H.O. cho một chương trình do người Mỹ chủ trương, vận động và thực hiện? Người Mỹ đã đặt tên cho chương trình của họ là Tái Định Cư Những Người Tù Chính Trị qua câu nói khẳng định sau đây của Ông Robert Funseth được trích trong bài báo trên tờ New York Times ngày 15/10/1989 của ký giả Seth Mydans có tựa đề: “The Nation; The Next Wave from Vietnam: A New Disability.”
“…Resettling this group will be a step toward closing out this nation’s debt to its Indochinese wartime allies. These people have been detained because of their close association with us during the war, said Robert Funseth, the senior deputy assistant secretary of state, who has spent most of this decade negotiating their resettlement…”  (…Tái định cư nhóm người này, (những người tù chính trị), là một bước tiến tới việc khép lại món nợ của quốc gia Hoa Kỳ đối với những đồng minh trong cuộc chiến Đông Dương. Những người này đã bị giam cầm vì đã cộng tác mật thiết với chúng ta trong cuộc chiến, trên đây là lời phát biểu của ông Robert Funseth, phụ tá cao cấp của bộ trưởng ngoại  giao, người đã bỏ ra gần một thập kỷ để điều đình về việc tái định cư những người tù chính trị...)
b/ Ông Robert Funseth không phải là cha đẻ của chương trình H.O. như Ông Vũ Quý Hạo Nhiên viết. Ông Funseth chỉ là người được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trao trách nhiệm điều đình với Việt Cộng để mang những người tù chính trị, cựu đồng minh của Hoa Kỳ, sang định cư tại Mỹ.
 
Ngày 30/4/05, đúng 30 năm sau ngày 30/4/1975, trả lời cuộc phỏng vấn của RFA do phóng viên Nguyễn Khanh thực hiện, Ông Funseth đã nói những câu nguyên văn như sau:
“Khi tôi được cử về làm việc cho Văn Phòng Đặc Trách Tỵ Nạn của Bộ Ngoại Giao (năm 1982), kế hoạch cứu tù chính trị được đặt trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự và nằm dưới sự hỗ trợ của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc.” Trong một đoạn khác của bài phỏng vấn, Ông Funseth nói:  “Riêng cá nhân tôi, tôi không thể nào nghĩ rằng 7 năm sau ngày khó quên đó (30/4/1975), tôi lại được trao trách nhiệm đàm phán với giới lãnh đạo Hà Nội để yêu cầu thả tù chính trị và cho họ cùng với gia đình sang Hoa Kỳ định cư…”
Những câu nói và  trả lời trên đây của Ông Funseth chứng tỏ rằng “kế hoạch cứu tù chính trị” để trả món nợ quốc gia của Hoa Kỳ đối với đồng minh của họ đã được hoạch định trước khi Ông Funseth được bổ nhiệm làm việc tại Văn Phòng Đặc Trách Tỵ Nạn của Bộ Ngoại Giao. Chương trình tái định cư những người tù chính trị Việt Nam tại Mỹ nằm trong chính sách ngoại giao của Tổng Thống Hoa Kỳ nhằm phục vụ quyền lợi của Hoa Kỳ mà bộ ngoại giao có nhiệm vụ thi hành. Ông Funseth không phải là thẩm quyền làm chính sách (policymaker) để có thể hoạch định chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Do đó, Ông Funseth không phải là cha đẻ của cái gọi là chương trình “H.O.” như Ông Vũ Quý Hạo Nhiên đã viết. Ông Funseth chỉ là một phụ tá cao cấp của bộ trưởng ngoại giao đã kiên trì trong tám năm với 25 cuộc họp để hoàn thành xuất sắc một nhiệm vụ chính trị và ngoại giao khó khăn được giao phó. Và như Ông Funseth đã phát biểu trong bài phỏng vấn nói trên: “Ngày ký kết cũng là ngày mà tôi hãnh diện nhất trong 40 năm làm ngoại giao.”
 
Một nhà ngoại giao được kính trọng như Ông Robert Funseth chắc cũng không muốn được tung hô quá mức vai trò thừa hành nhiệm vụ được giao phó mà bất cứ ai ở địa vị của ông Funseth cũng làm như Ông Funseth đã làm.
Những điều trình bày trên đây cũng gạt bỏ những luận điệu tung hô của một số người tâng bốc cho rằng nhờ có Bà Khúc Minh Thơ, Chủ Tịch Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị, vận động nên Ông Robert Funseth mới đẻ ra cái gọi là Chương Trình H.O. để mang những người cựu tù chính trị sang định cư tại Mỹ, và Bà Khúc Minh Thơ là ân nhân của tập thể hàng trăm ngàn người tù chính trị. Câu chuyện hoang tưởng, mờ ám này tưởng đã chìm xuống nhưng mới đây lại được hâm nóng lại qua báo chí và truyền hình. Để làm sáng tỏ “công ơn” của Bà Khúc Minh Thơ đối với tập thể người cựu tù chính trị, cách đây hơn một năm, vào dịp Bà Khúc Minh Thơ đứng ra tổ chức cái gọi là “Ngày Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị” tại Dallas vào ba ngày đầu tháng 10/2008, tôi đã viết hai bài có tựa đề: “Người Tù Chính Trị Việt Nam: Món Nợ của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh và Dự Luật H.O. của Ông Nguyễn Ngọc Bích và Bà Khúc Minh Thơ.” Hai bài viết này hiện còn lưu trữ trên một số Websites.
Trong đoạn cuối của bài báo nói trên, Ông Vũ Quý Hạo Nhiên đã viết:
“Vậy chữ “H.O.” ở đâu ra? Có tác giả cho rằng khi người cựu tù cải tạo nộp đơn xuất cảnh qua diện này, phía Sở Ngoại Vụ đánh số hồ sơ bắt đầu bằng chữ “H”. Hồ sơ số 5987, chẳng hạn, sẽ mang số “HO5987” trong đó có số không (số zero) dẫn đầu. Nhưng người nộp đơn lại đọc số không thành chữ O và từ đó đẻ ra huyền thoại “Humanitarian Operation” là một chữ mà theo Ông Funseth không có trong vụ này.” Điều này chứng tỏ rằng Ông Vũ Quý Hạo Nhiên cũng chỉ viết lại những suy đoán mơ hồ của người khác chứ không truy nguyên rõ lai lịch của cái nguỵ danh H.O..
 
Một cách chính thức, không có cái gọi là Chương Trình H.O. nào cả. H.O. không phải là hai chữ viết tắt của “Humanitarian Operation” mà chỉ là sự suy đoán từ các con số thứ tự của các danh sách những người cựu tù chính trị đã được Việt Cộng cấp sổ thông hành (passport) và trao cho phía Hoa Kỳ phỏng vấn để đi tỵ nạn tại Mỹ. Ví dụ như các danh sách đầu tiên mang các số thứ tự H 01, H 02, H 03… gồm có hai phần: phần mẫu tự là H và phần các con số hàng đơn vị là 01, 02, 03…, và khi đến con số hàng chục thì không còn số không (zero) nữa mà trở thành  H 10, H 11, H 12….
Sau đây là một trích đoạn trong “Giấy Báo Tin” của Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh của nguỵ quyền Việt Cộng tại Hà Nội gửi cho một người cựu tù chính trị.
 
GIẤY BÁO TIN
……………………………………………………    ……………………………………………………
 
1/ Chúng tôi đồng ý cho ông cùng 03 người trong gia đình được phép xuất cảnh đến nước Mỹ.
2/ Về việc cấp hộ chiếu: chúng tôi đã cấp 04 hộ chiếu số: 28273, 28275, 28277, 28279 gửi kèm theo.
3/ Chúng tôi đã lên danh sách số H 10, số thứ tự 796, chuyển Bộ Ngoại Giao để chuyển chính phủ Mỹ bố trí tiếp xúc phỏng vấn xét nhập cảnh.
Nếu gia đình cần biết thời gian phỏng vấn tiếp xúc và kết quả duyệt xét nhập cảnh xin liên hệ chính phủ Mỹ.
Xin thông báo để ông yên tâm.
(Hiện phía Mỹ đang phỏng vấn danh sách H 05) Hà Nội, ngày 10 tháng 7 / 1990
TRƯỞNG PHÒNG X.N.C
Trần Thành
(Ký tên và ấn dấu)
 
Những điều trình bày trên đây đã chứng minh rằng không có cái gì chính thức gọi là “H.O.” cả.  “H.O.” chỉ là một nguỵ danh đã được sử dụng một cách lập lờ để chỉ một người “tù cải tạo” nhằm xoá đi cái chính danh là người tù chính trị.  Đây là trò chơi chữ đểu giả của lũ Việt Cộng  bởi vì không bao giờ chúng nhìn nhận rằng chúng đã giam giữ những người tù chính trị mà chỉ đưa đi “cải tạo” những kẻ phạm tội hình sự đối với chúng. Cho nên chính danh là điều quan trọng, và phải xoá bỏ cái nguỵ danh “H.O.” trong từ vựng tiếng Việt.
Nếu dịch sang tiếng Việt, những cái tên nửa Việt nửa Mỹ như: Chương Trình H.O., các ông H.O., ông H.O. 1, bà H.O. 5, con ông H.O. 8…sẽ thành những cái tên ngô nghê, vô nghĩa như: Chương Trình Chiến Dịch Nhân Đạo, các ông Chiến Dịch Nhân Đạo, ông Chiến Dịch Nhân Đạo 1, bà Chiến Dịch Nhân Đạo 5, con ông Chiến Dịch Nhân Đạo 8….
 
Cái nguỵ danh H.O. đã bị lộng giả thành chân từ 35 năm nay. Trong ngôn ngữ nói hàng ngày, người ta thường tự bào chữa rằng vì “quen miệng” nên sử dụng những cái ngụy danh như: “các ông H.O., chương trình H.O., ngày giải phóng, học tập cải tạo, người tù cải tạo…”. Nhưng khi đã viết ra trên giấy trắng mực đen lại là chuyện khác, người viết phải tôn trọng độc giả và có nhiệm vụ phải truy nguyên, điều tra cho rõ sự thật và sử dụng đúng chính danh chứ không thể sử dụng cái ngụy danh lập lờ “H.O.” nếu không muốn bị coi là có âm mưu bất chánh hoặc thiếu lương tâm nghề nghiệp.
Trước đây, trên một diễn đàn điện tử, có một ông nhà văn nhà báo đã viết: “Tên H.O. thực ra như chúng ta đã biết xuất xứ từ cách đánh số của cộng sản bắt đầu từ H 01 cho đến H 09 thì trở thành H 10. Nhưng bây giờ đã thành danh thì ta cứ gọi là H.O.”. Đây là kiểu ăn nói lấy được, bất chấp lương tâm nghề nghiệp của nhà văn nhà báo là phải tôn trọng sự thật, đặc biệt là sự thật đối với lịch sử.
Việt Cộng và tay sai có thể lợi dụng cái danh xưng H.O. không chính, không thực và lập lờ này cho âm mưu đen tối của chúng để bôi đen chân dung người chiến binh QLVNCH. Cách gọi bằng những cái tên tỏ vẻ giễu cợt như: “các Ông Hát Ô, các Ông Ếch Ô” là xúc phạm đến danh dự của tập thể người tù chính trị, người lính VNCH.
Băng đảng Việt Cộng không bao giờ nhìn nhận rằng những người đã bị chúng giam cầm phi pháp là tù nhân chính trị và chúng luôn luôn tuyên bố rằng những người này là tội phạm chiến tranh vì đã cầm súng chiến đấu chống lại chúng, và chúng thả những người này ra và để họ đi định cư tại ngoại quốc là vì lý do nhân đạo chứ không phải vì lý do chính trị. Do đó, Việt Cộng và tay sai có thể tuyên truyền lếu láo rằng đảng của chúng đã tổ chức cả một chiến dịch nhân đạo (H.O., Humanitarian Operation)) để cho những người tù chính trị và gia đình họ đi định cư tại ngoại quốc. Nhưng thực tế và lịch sử đã chứng minh rằng Việt Cộng là một lũ vô nhân tính làm sao chúng có nhân ái để làm chuyện nhân đạo.
Trước đây vài năm, một tờ nhật báo tại San Jose đã đăng một loạt bài phỏng vấn với tựa đề “Cuộc Chiến Nhìn Từ Hai Phía”, trong đó có bài phỏng vấn tên Tổng Lãnh Sự Việt Cộng Nguyễn Xuân Phong tại San Francisco. Tên cộng sản này đã lợi dụng cuộc phỏng vấn để mạt sát các anh em cựu tù chính trị là vô ơn đối với đảng và nhà nước của y. Cũng tờ báo này đã xấc xược gọi Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California là Hội Tù với ý đồ bôi đen chân dung người tù chính trị Việt Nam.
Sự kiện hàng trăm ngàn người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Hoa Kỳ là một sự kiện chính trị mang dấu ấn lịch sử. Sử dụng những cái nguỵ danh như “Hát Ô hay Ếch Ô” khi nói hay viết là thái độ cợt nhả đối với một sự kiện lịch sử. Để bảo vệ danh dự và chỗ đứng trong lịch sử của tập thể hàng trăm ngàn người tù chính trị, những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ quê hương Miền Nam thân yêu suốt 20 năm, phải loại bỏ cái ngụy danh “Chương Trình H.O.” và thay bằng cái chính danh là  “Chương Trình Tái Định Cư Những Cựu Tù Nhân Chính Trị”. 
Đây là một chương trình do chính phủ Hoa Kỳ hoạch định và thực hiện với sự hỗ trợ của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc để trả một món nợ quốc gia của Hoa Kỳ đối với đồng minh của họ trong cuộc chiến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương và Việt Nam.
Viết để đánh dấu 20 năm một sự kiện lịch sử là điều rất nên làm. Nhưng chính danh là điều quan trọng để hậu thế biết và hiểu đúng sự thật lịch sử. Dùng cái nguỵ danh H.O. - một ám số của Việt Cộng - đã bị lộng giả thành chân để xuyên tạc một sự thật lịch sử là có tội đối với lịch sử.
 
 
Đỗ Ngọc Uyển
(Khoá 4 Thủ Đức)
Tháng 4 năm 2010
Morgan Hill, California

CÁC NIÊN TRƯỞNG TQLC

  Phần I: NT MX. PHẠM VĂN LIỂU:
A-Dẩn nhập của MX Saigon -Tôn Thất Soạn:
Thiếu Úy Tôn Thất Soạn sau khi tốt nghiệp khóa 4 Thủ Đức 1-6-1954, trở về trình diện BTL. Quân Khu 2, Miền Trung-Huế, đáo nhậm đơn vị đầu tiên là tiểu đoàn 42 VN đồn trú tại Mỹ Chánh-Quảng Trị; tiếp theo giữ chức vụ ĐĐP/ĐĐ3 đồn trú tại Diên Sanh cũng là nơi đồn trú của Chi Khu Quân Sự Diên Sanh vẫn còn do sĩ quan Pháp chỉ huy.
Ngày 1-10-55, sau khi thụ huấn khóa pháo binh 106ly/4'2 tại trường Võ Bị Dalat thì được lịnh của Bộ Quốc Phòng bổ sung về Binh Chủng TQLCVN để phục vụ PĐ 106 ly TQLC đang được thành lập đồn trú tại tỉnh lỵ Mỹ Tho.
Đầu năm 1956, Trung úy Tôn Thất Soạn trình diện BCH Liên Đoàn TQLC đóng tại trại Cửu Long, Thị Nghè-Saigon. Trg/úy Tôn Thất Soạn được gặp CHT-TQLC là Thiếu Tá Phạm Văn Liễu. Sau khi chào hỏi, Th/T Liễu đã ân cần niềm nở và cấp sứ vụ lệnh cùng xe jeep cho Trg/Úy Soạn về Mỹ Tho để đáo nhậm Đại Đội Sơn Pháo 106ly TQLC…

B-Giới thiệu về MX PHẠM VĂN LIỄU:
…Trong hồi ký ‘TRẢ TA SÔNG NÚI” tác giả MX Phạm Văn Liễu đã kể về việc “THÀNH LẬP TQLCVN” như sau:
"Đầu tháng 12-1954, Tôi vào Saigon trình diện Bộ TTM, ngày ấy vẫn còn xử dụng doanh trại trên đường Trần Hưng Đạo-Chợ Lớn. Vì là một sĩ quan thâm niên trong ngành Tuần Giang và Xung Kích, từng theo học lớp sĩ quan căn bản Hải Quân Khóa 1 Nha Trang, được huấn luyện về đổ bộ trên các chiến hạm Pháp, thực tập với các đoàn biệt kích trong Liên Đoàn Biệt Kích Miền Bắc VN (Groupement des Commandos du Nord Viet Nam) với 2 đoàn biệt kích nỗi danh Ouragan và Tempete của Hải Quân Pháp Tôi được giao phó trách nhiệm thành lập THỦY QUÂN LỤC CHIẾN của Quân Đội Quốc Gia VN.
Văn phòng thoạt đầu được đặt tại tòa nhà phụ bên phía mặt của Bộ TTM, chung với BCH Thiết Giáp do Thiếu Tá Dương Ngọc Lắm chỉ huy. Theo tôi về Saigon còn có Trung Úy Lê Nguyên Khang, 2 sĩ quan Pháp  Đại Úy Bore và Đại Úy Ferruci, thành thạo về tổ chức, văn thư, sổ sách, phụ giúp tôi việc văn phòng.
Thoạt đầu, các Liên Đoàn Tuần Giang 1,2,3 trở thành 3 đơn vị cơ bản của lực lượng TQLCVN. Đại Úy Nguyễn Kiên Hùng, K.5 Dalat, người bạn thân của tôi đang chỉ huy Liên Đoàn Tuần Giang số 1 đóng tại căn cứ Khánh Hội. Thời gian này, theo tổ chức TQLC trực thuộc BTL Hải Quân do Thiếu Tá Lê Quang Mỹ chỉ huy. Trung Úy Lê Nguyên Khang phụ tá tôi về văn phòng. Cố Vấn cho Tôi là Đại Úy Breckenridge USMC thuộc phái bộ Cố Vấn Mỹ mới thành hình tại Saigon. Huy hiệu Binh Đoàn TQLCVN mới đầu được nghĩ ra là hình vuông màu ĐEN làm nền, vòng tròn ĐỎ ở trong, giữa có ngôi sao TRẮNG. Đơn vị đầu tiên được thành lập là Tiểu Đoàn 1 TQLC đóng tại Nha Trang. Các đơn vị tiền thân của Tiểu Đoàn này gồm đơn vị biệt kích Bắc Việt và Liên Đoàn Tuần Giang Xung Kích số 3. Đại Úy Bùi Phó Chí được đề nghị làm TĐT.
Đại Úy Delayen, thuộc LĐBKBV làm cố vấn. Đại Úy Delayen và Tôi từng quen biết trên chiến trường khu Nam Bắc Việt. Ông là một sĩ quan rất can đảm và anh dũng, nhiều kinh nghiệm chiến đấu.
Đầu năm 1955, tôi được thăng cấp Thiếu Tá, Trung Úy Khang lên Đại Úy. Thành lập xong TĐ1, chúng tôi bắt đầu thành lập TĐ2 TQLC. Căn bản lấy đơn vị biệt kích Bergerol, nỗi danh trong Nam. Đơn vị này có 4 đại đội tác chiến do 1 Thiếu Tá Pháp gốc Đức chỉ huy. Đại Úy Nguyễn Văn Nam phụ tá, các ĐĐT là Trung Úy Nguyễn Văn Hay (tự Hai Chùa), Trung Úy Thạch Hốt gốc Miên, Trung Úy Nguyễn Văn Khái, Trung Úy Nguyễn Văn Châu. v.v các sĩ quan phụ lực quân này khi chuyển qua QĐQGVN họ được giữ nguyên cấp bậc cũ. Cũng thời gian này, chúng tôi thành lập một đơn vị “Corps Franc” dựa theo tổ chức đại đội Biệt Kích miền Bắc (giống đại đội Thám Báo sau này) giao cho Thiếu Úy Trần Văn Nhựt K.10 Dalat chỉ huy.
Chúng tôi cũng được phép tổ chức đơn vị pháo binh cho Binh Đoàn, gồm 12 khẩu 4'2/106 ly mới được Hoa Kỳ viện trợ.
Tháng 6-1955, Phủ Thủ Tướng bổ nhậm Trung Tá Lê Quang Trọng, K.2 Huế, sĩ quan người Huế làm CHT Binh Đoàn TQLC. Trung Tá Trọng cử tôi làm TMT, Đ/U Nguyễn Kiên Hùng TP3, Đ/U Khang TP4, Đại Úy Nguyễn Kim Hương Giang TP1, Trung Úy Huỳnh Văn Nhàn TP2. Trg Tá Trọng là một sĩ quan giỏi, nhiều tính chất văn nghệ, cư xử khéo léo, thân mật với anh em. Sau chiến dịch Hoàng Diệu, Đại Úy Nguyễn Kiên Hùng được cử làm TĐT- TĐ2 TQLC, Đ/U Nguyễn Văn Nam TĐP, đóng tại Rạch Dừa, Vũng Tàu.
Cuối năm 1955, Trung Tá Trọng được nhậm chức TL Sư Đoàn Khinh Chiến 11 trú đóng tại Cần Thơ. Thiếu Tá Phạm Văn Liễu được chỉ định CHT Binh Đoàn TQLC từ tháng 1 đến tháng 8- 1956."…

C.TIỂU SỬ MX. PHẠM VĂN LIỄU:
Sinh năm 1928 tại Nam Định, Bắc Việt.Qua đời ngày 20-10-2010 nhằm ngày 13 tháng 9 năm Canh Dần tại San Jose, Cali-USA. Tên gọi trong cách mạng: Trần Sơn Nam. Hoạt động tại hải ngoại kể từ 1975 tên là Trần Trung Sơn.
CÁC KHÓA HỌC:
-1950-51 ,trung học Nguyễn Trải,Hanoi.
-1951-52,Võ Bị Liên Quân Dalat,K.5.
-1952,Trường Hải Quân Nha Trang,K.1 lớp căn bản.
-1956-57,Trường Bộ Binh Hoa Kỳ Fort Benning,GA.
BINH NGHIÊP:
-1953: CHP. Liên Đoàn Tuần Giang Xung Kích (LĐTGXK) số 3.
-1953: ĐĐT/Tiểu Đoàn 54, khu chiến Hưng yên.
-1953-54: CHT- LĐTGXK SỐ 3, Nam Định.
-1954-55: thành lập và CHT –TQLCVN.
-1957: TMT trường VBQG-DaLat.
-1957-58: Trung Đoàn Trưởng Trg-Đoàn 39, SĐ 13, Tây Ninh.
-1958-60: TMT- TTHL Quang Trung.
-1964: CHT-TTHL Quang Trung.
-1964: TMT Sư Đoàn 7 BB. Mỹ Tho.
-1964-65: Phụ Tá Hành Quân Quân Đoàn II, Pleiku.
-1965: Thứ Trưởng bộ Thanh Niên, nội các Thủ Tướng Phan Huy Quát.
-1965-66: Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia.
-1966: Đặc Sứ Lưu Động Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan.
-1967: CHT trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Nha Trang.
-1968: Phụ Tá Đặc Biệt cho TL/QĐIII, Biên Hòa.
-1969: Tổng Thanh Tra QĐIII. Biên Hòa.
-1969: Sĩ Quan Liên Lạc SĐ1KK-HK (1st US Air Calvary Division).
-1969: CHT Căn Cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho.
-1972: Cố Vấn Quân Đội Kampuchia tại Neak Luong.
-1972-73: Phụ Trách khai thông song Cửu Long ,an ninh thủy lộ từ Saigon đến thủ đô Nam Vang.
-1973-30/4/75: Tham Vấn Tại Gia.
HOẠT ĐỘNG THANH NIÊN VÀ CÁCH MẠNG:
-1944-45: Đoàn Jeune Campeurs.
-1945: Đoàn Thanh Niên Khất Thực.
-1945: Đại Việt Quốc Dân Đảng.
-1946-49: Lưu Vong qua Trung Hoa.
-1960-63: Lưu Vong qua Kampuchia.
-1975-2010: Lưu Vong Tị Nạn tại Hoa Kỳ:
Những nổ lực đấu tranh bằng vũ lực chống cộng sản từ sau 1975 ở Hải Ngoại, đặc biệt là những bí ẩn về Mặt Trận Thống Nhất Giải Phóng Quôc Gia..

D-ĐOẠN KẾT:
Lời tâm tình của tác giả MX.PHẠM VĂN LIỄU trên tờ bìa cuốn hồi ký “TRẢ TA SÔNG NÚI” có đoạn:
"... Đã nhiều năm qua, bằng hữu, anh em, thường thúc giục tôi viết hồi ký. Tôi phân vân mãi, nhưng không thể khởi đầu. Một trong những lý do là tôi vẫn nghĩ hồi ký chỉ dành cho những người đã rút chân khỏi cuộc đời hoạt động. Hơn nữa cái tôi thường đáng ghét. Đời tôi tạm gọi có nhiều thăng trầm, vinh nhục ,nổi trôi từ quê cha đất tổ mến yêu đến hải ngoại nhiều phen, nhưng mỗi lần nghĩ đến chuyện viết lại chuyện đời mình cho người mua vui dăm ba khắc, vài ngày, tôi không khỏi hổ thẹn. Gần đây, do cơn kích tim, sức khõe bị suy yếu. Anh em thương quí vẫn khuyến khích nhắc nhủ phải tiếp tục đấu tranh cho dân chủ, tự do và nhân quyền. Tôi không thể từ chối, vì đó cũng là tâm nguyện bấy lâu: một lòng, một dạ phụng sự cho Quốc Gia và Quốc Dân. Cuộc đấu tranh cho dân chủ, tự do và nhân quyền tại Việt Nam là cuộc chiến không ngừng nghỉ, cần vận dụng bất cứ phương tiện nào có thể có. Bởi thế, hơn một lần tôi nghiền ngẫm việc viết lại những lỗi lầm đời mình dài theo dòng lịch sử quốc dân làm món quà cho những người bạn trẻ. Cổ Nhân dạy: "Dẫm lên sương sớm, nhớ tới mùa Đông". Biết đâu, những kinh nghiệm máu và nước mắt đời tôi chẳng giúp vài ba bạn trẻ nào đó hằng tâm với đất nước, tránh được những vết xe đổ của người đi tước? Đó là tâm nguyện duy nhất của người viết.
Phạm Văn Liễu…"

Phần II: NT. MX. HOÀNG TÍCH THÔNG.
A-Lời giới thiệu của MX. Tôn Thất Soạn:
Khóa 10 sĩ quan hiện dịch Đalạt và khóa 4 sĩ quan trừ bị Thủ Đức cùng làm lễ mãn khóa chung vào ngày 1 tháng 6 năm 1954 tại Saigon. Cuộc duyệt binh khá rầm rộ trên đường Phạm Ngủ Lão – Chợ Cũ. Dưới sự chủ tọa của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Một số sĩ quan trừ bị Thủ Đức sau đó lần lượt tình nguyện về phục vụ Binh Chủng TQLC đang trong thời kỳ thành lập 1-10-54, gồm có Trung Úy Tôn Thất Soạn, Trung Úy Bùi Thế Lân và Trung úy Hoàng Tích Thông…
B-TIỂU SỬ MX. HOÀNG TÍCH THÔNG:
Trong hồi ký “Cuộc Đời Tôi”, tác giả MX.Hoàng Tích Thông đã tóm tắt sơ lươc “Đời Tôi” như sau:
1. 1928-45 - Thời niên thiếu:
Sinh trưởng trong một gia đình có 7 trai, 5 gái; Tôi là con út, sinh tại Hanoi, VN.năm 1928. Nhưng thuở nhỏ, học tại tiểu học xã Đông Ngạc (Làng Vẽ) Hà Đông. Sau đó là trường trung học Thăng Long Hà Nội và trường Louis-Pasteur cho đến hết lớp đệ Nhị năm 1954. Lúc trẻ ham mê thể thao như bóng tròn, bóng bàn, bơi lội.v.v. Cuối năm 1945, sau khi Việt Minh cộng sản cướp chính quyền thì nghỉ học vì tình hình chính trị xáo trộn.
2.1945-53 - Gia nhập Quốc Dân Đảng:
Trước tiên gia nhập Quốc Gia Thanh Niên Đoàn (QGTNĐ), một tổ chức ngoại vi của Mặt Trận Quốc Dân Đảng, Quốc Gia(MTQDĐQG) chống lại Việt Minh cộng sản (VMCS) , theo thứ tự sau:
a) Từ 8/45 đến 2/48:
Tình hình chung khi thế chiến 2 chấm dứt 1940-45.
b) Quốc Gia Thanh Niên Đoàn (QGTNĐ) trong những ngày đầu thành lập và thụ huấn tại trường Quân Chính Xứ Nhu (Việt Trì) và trường Lục Quân Yên Bái.
c) Chiến đấu trong Mặt Trận Quốc Dân Đảng (MTQDĐ) tại Đệ Tam Khu Chiến từ Vĩnh Yên tới Lào Kay.
d) Từ 11/1946 đến 2/48:
-Trên đường vào chiến khu Phòng Thô (Lai Châu) qua biên giới Trung Hoa.
-Những ngày chiến đấu trong chiến khu.
e) Từ 2/1948 đến 2/50:
-Trên đường lưu vong tại Trung Hoa.
f) Từ 2/1950 đến 6/50:
-Trên đường rời khỏi Hoa Nam từ phủ thủ Côn Minh (tỉnh Vân Nam) qua Quế Dương (tỉnh Quý Châu), Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây), Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông) tới Hương Cảng.
-Cuộc sống tạm bợ tại Hương Cảng và trở về Hanoi VN năm 1949.
3. 1953-75 - Gia Nhập Quân Đội VNCH:
-Nhập học trường SQTB Thủ Đức Khóa 4 ra trường 1-6-54 cấp bậc Thiếu úy.
-Trình diện Đệ Tam Quân Khu Bắc Việt, nhận nhiệm vụ đầu tiên là đơn vị trọng pháo 753 hoạt động ở yếu khu "Bần Yên Nhân", Hải Dương, Bắc Việt.
-1955: di chuyển vào Nam sau hiệp định Paris cùng với đơn vị PB 753, sau đó được sát nhập vào trung đoàn 155 BB tại Nha Trang, sau đổi tên là trung đoàn 5 BB, để thành lập SĐ 2 BB đóng tại Sơn Trà, Đà Nẵng. Với chức vụ ĐĐT-ĐĐ TP 5.
-1957: làm TB3 tiểu đoàn 2, trung đoàn , SĐ2 .BB
-Tháng 1/1958: sĩ quan BTM trung đoàn, SĐ1-Huế.
-Thàng 4/1958: tình nguyện về TQLC, Trung Úy ĐĐT-TĐ1-TQLC, Nha Trang, hành quân với TĐ1 –TQLC tại Kiến Hòa (1960), Cà Mâu, và mật khu Hố Bò QK3.v.v.
-1960: trung úy du học Hoa Kỳ lớp Basic course, Quantico, USMCS Quantico,VA.
-1963: đại úy ĐĐT-ĐĐ1-TĐ1/TQLC, tham gia đảo chánh 1-11-63 tại Saigon.
-1964: thiếu tá TĐT-TĐ2 TQLC, hành quân Kontum, Đức Cơ, Bồng Sơn, Bình Định.
-Tháng 3/1966: du học Hoa Kỳ, Junior course, MCS Quantico, VA.
-Tháng 10/1966: CĐT-CĐ A-TQLC, hành quân Junction City với SĐ 25 BB Hoa Kỳ, tại Tây Ninh.
-1968: Thiếu Tá CĐT-CĐ A, hành quân giải tỏa VC tại Saigon sau đó là Huế.
-1969: Trung Tá LĐT LĐ-147 hành quân Vùng 4 Chương Thiện, Ba Xuyên.v.v.
-1970: Đại Tá LĐT LĐ-147, HQ Cambot.
-Tháng 3/1971: ĐT LĐT-147, HQ lam Sơn 719 Hạ Lào-
-Tháng 10/71: Đại Tá thực thụ theo học Chỉ Huy & Tham Mưu Cao Cấp Dalat.
-Tháng 11/1972: ĐT/ TLP- SĐ2 BB tại Chu lai, Quảng Tín. HQ giải tỏa VC cửa biển Sa Huỳnh, Quảng Ngãi được ân thưởng Đệ 3 BQHC.
-Tháng 3/75: TLP SĐ2 BB rút về Hàm Tân –Bình Tuy.
-Tháng 4/75: ĐT TLP SĐ2 BB di chuyển HQ phòng tuyến Phan Rang.
-22-4-75: Dt Hoàng Tích Thông đào thoát từ Phan Rang về đến Vũng Tàu.
-30-4-75: tập trung cải tạo tù cộng sản từ Long Giao, ngoài Bắc, trong Nam.
-Tháng 2/88: được tự do sau 13 năm tù cộng sản.
-Tháng 9/1991: MX. Hoàng Tích Thông cùng gia đình sang Hoa Kỳ định cư tị nạn CS theo diện HO.7 định cư tại Santa Ana, California cho đến nay 2-2016.
C. ĐOẠN KẾT:
1. Trong hồi ký ”Cuộc Đời Tôi”, cựu đoàn viên Quốc Gia Thanh Niên Đoàn Nguyễn Đức Linh đã nhận xét:
"...hồi ký của Hoàng Tích Thông đã nói lên một thời trai trẻ có lý tưởng để phụng sự với bầu nhiệt huyết đấu tranh vì dân tộc, với sự mong ước trong sáng, kỳ vọng đất nước giàu, dân mạnh, thoát cảnh nghèo đói tối tăm. Con đường cách mạng của Hoàng Tích Thông cũng là con đường lý tưởng của chung cho tất cả đoàn viên Quốc Gia Thanh Niên đoàn.."
2. Tác giả Mũ Xanh Hoàng Tích Thông đã tâm sự trong cuốn “Cuộc Đời Tôi” :
"…trong số anh em chúng tôi tham gia vào Quốc Gia Thanh Niên Đoàn đến giờ phút này cũng chẳng còn bao nhiêu, khoảng chừng 20 người, trong số gần 200 người mà một nửa của 20 người đang sinh sống tại Hoa Kỳ và các nước tự do khác. Số còn lại vẫn còn ở trong nước. Thực tâm tôi chỉ muốn ghi lại những ngày hoạt động xa xưa của lứa tuổi đôi mươi trong thời kỳ tranh đấu dành độc lập cho VN để dành riêng cho gia đình QGTNĐ và may ra có thể cùng đóng góp một phần nào trong tài liệu tham khảo của những ai muốn viết về lịch sử tranh đấu của những người Quốc Gia, vì tôi đã may mắn đi chọn con đường dài từ Vĩnh yên tới Phong Thổ Bắc Việt..."
MX.Hoàng Tích Thông SQ QLVNCH, 1954-75.. Hiệu: Quý Minh,Tự: Bất Si, Orange County, CA. USA.

Phần III: NT. MX. Hoàng Lãm
MX. Hoàng Lãm ra trường khoá 4 Phụ Thủ Đức ( Cương Quyết 2 ) tháng 10/1954, Th/uý thuyên chuyển lên Tiểu Đoàn 454 BGM (Bataillon de Garde Montagnard) ở Tiểu Khu Kontum. Khi ấy thì Thiếu Úy Bùi Thế Lân K. 4 Thủ Đức đang ở Tiểu Đoàn 5 BM ( 5 ième Bataillon Montagnard ). Hồi ấy các Tiểu Đoàn ở Cao Nguyên đều còn dưới sự chỉ huy của các sỉ quan người Pháp. Đến năm 1955 khi Pháp rút khỏi VN sau HĐ Geneve thì mới bàn giao cho SQ người Việt và cờ Vàng 3 Sọc Đỏ lần đầu tiền được kéo lên ở sân cờ T/Đ thay cho cờ Tam Tài của Pháp.
Thiếu Úy Cổ Tấn Tinh Châu sau khi ra trường Khoá 5 Thủ Đức năm 1955 cũng thuyên chuyển lên T/Đ 454 và cả Thiếu Úy Nguyễn Đức Ân (TTHL).
-1956: HL được chỉ định làm Sỉ quan Phụ tá Tiểu Đoán Trưởng cho Đ/uý Võ văn Lê ( officier adjoint),hồi ấy không có T/Đ phó.
-1956: khi QĐQG bắt đầu thành lập các Sư Đoàn, vào khoảng cuối năm 1956 thì các T/Đ 454, T/Đ 5 ở Kon-Tum đều nhận lệnh giải tán để lấy quân số bố sung cho Sư Đoàn 12 Khinh Chiến ( tiền thân của S/Đ 23).
Trung Úy Hoàng Lãm và Trung Úy Bùi Thế Lân thuyên chuyển qua Tiểu Khu Kontum, HL được chỉ định làm Trưởng P1 kiêm Trưởng P4, Trg Úy Lân Trưởng P3.
- Cuối năm 1956, ở TK/Kontum chưa được bao lâu, thì Trg Úy Lân và Trg Úy Lãm làm đơn xin đi học khóa sĩ quan căn bản Công Binh tại Hoa Kỳ; Tuy nhiên sau đó không có tin tức gì nên Trg Úy Lãm và Trg Úy Lân đã tình nguyện về TQLC đang thành lập và được Th/Tá TKT Hùnh văn Lạc chấp thuận..
- Tháng 5/1956, Trg Úy Lãm và Trg úy Lân trình diện BCH/TQLC tại Trại Cửu Long ở Thị Nghè. TQLC hồi ấy đang còn Liên Đoàn do Th/Tá Lê Như Hùng CHT. Tr/uý Lân được chỉ định làm Trưởng P3, sau đổi ra TĐ1/TQLC. Trg Úy Lãm làm Trưởng P1. - Tháng 12/1957, đi Mỹ học khoá Basic USMC School ở Quantico / VA cùng với 6 SQ/TQLC khác là các Tr/uý: Tôn Thất Soạn, Ngô văn Định, Nguyễn văn Nho, Phạm Ngọc Thụy, Giang Khánh Tước và Nguyễn Hữu Cát.

- Tháng 8/1958 mãn khoá về nước, được chỉ đinh làm Trưởng P3/BCH/LĐ TQLC vẫn ở Thị Nghè.
- Giữa năm 1960, Đ/uý Lê Nguyên Khang đang là TĐT/TĐ3 được Tổng Thống NĐ Diệm thăng Th/Tá và thay Th/Tá Lê Như Hùng làm CHT/LĐ TQLC. Đ/uý Nguyễn Kim Hương Giang (khoá 1 SQTB Thủ Đuc) vẫn là CHP kiêm TMT. Hồi ấy đầu năm 1960 VC thành lập MTGPMN và phong trào nổi dậy bùng khắp các tỉnh ở Miền Nam, đặc biệt ở Bến Tre tình hình rất nặng, TQLC được lệnh của Bộ TTM đưa hết cả LĐ gồm có TĐ1/TQLC, TĐ2/TQLC và BCH/LĐ tăng phái cho QK5 để bình định vùng Bến Tre/ Kiến Hoà. Trước khi đi thay vì để Đ/uý Nguyễn Kim Hương Giang đang là CHP kiêm TMT ở nhà, Th/tá Khang lại mang Đ/uý Giang theo ra hành quân và chỉ định Trg Úy H.Lãm XLTV BCH/ LĐ/ TQLC kiêm Q/TMT.
-Chính biến tháng 10/1960: Khoảng 2 giờ chiều ngày 10 tháng 10/1060, Đ/uý Nguyễn Kiên Hùng TĐT/TĐ3/TQLC, đóng quân cùng Trại Thị Nghè qua BCH gặp H.Lãm để lệnh cho Tr/uý Hình SQ Quân Lương (OD) của LĐ, phát tiền ăn nửa tháng sau của tháng 10, H.Lãm nói bửa nay mới 10 Tây mà, Đ/uý Hùng nói nhân ngày mai có xe của BCH liên lạc với hành quân ở Miền Tây nên cho xe của TĐ tháp tùng theo để mua lương thực cho rẻ, H.Lãm nghe cũng hợp lý, chứ thật ra theo quy định thì tiền ăn chỉ phát ngày 1 và 15 mổi tháng. (Đây là một trong những điều mà sau này Đ/Tá Đổ Mậu Giám Đốc Nha ANQĐ hạch tội H.Lãm có dính líu đến đảo chánh).
Nửa đêm ngày 10/10/60 khoảng 1 giờ sáng, nghe súng nổ càng lúc càng nhiều, H.Lãm vội vàng lái xe vào Trại Cửu Long, mới hay là Đ/uý Hùng lấy xe cơ hữu của TĐ3 chở được 2 Đại đội ra khỏi Trại và dặn Đ/uý Mã Viết Bẳng TĐP sẽ cho đoàn xe trở về chở tiếp 2 Đại đội còn lại. Trg Úy H.Lãm cho lệnh đóng cồng Trại và sau đó nhận lệnh trực tiếp của Đ/Tá Hồ Tấn Quyền TL/HQ để Đ/uý Bằng dẩn bộ 2 Đại đội qua cầu Avalanche (cầu sắt nhỏ bắt qua Rạch Thị Nghè nối Trại Cửu Long với phía sau của Hải Quân Công Xưởng) qua đường Cường Để ra Bến Bạch Đằng trình diện Đ/Tá Quyền cùng vào Dinh Độc Lập ở cửa đường Nguyễn Du chống lại phe đảo chánh.
Vào khoản 11 giờ thì Thiếu Tá Nguyễ Đức Vân TMT/BTL/Hải Quân gọi điện thoại bảo H.Lãm gửi gấp 2 Trung Đội tác chiến với 2 đơn vị hỏa lực trình điện BTL/HQ ở Bến Bạch Đẳng, H. Lãm cho biết là TĐ3TQLC không còn lính, lính tại ĐĐ/CH Công vụ thì khộng phải là lính tác chiến mà hầu hết là lính để đua xe đạp, bơi lội v.v..
Cuộc đảo chánh thất bại do chính là nhờ 2 ĐĐ của Đ/U Bẳng đã vào được Dinh Độc Lập để chống lại, ngày 12/10/60 thì Đ/U Hùng, Tr/U Nguyễn Công Minh (Emile), Tr/U Võ Kỉnh, Th/U Lê văn Toán và Th/U Thái Trần Trọng Nghĩa (Thủ khoa Khoá 14 VB ) chạy thoát sang Nam Vang bằng máy bay.
- 13/10/60 , Thiếu Tá Lê Nguyên Khang cùng BCH/HQ/TQLC về lại Trại Cửu Long thì H.Lãm trở lại Trưởng P3.
-Tháng 7/1961, Đại Úy Hoàng Lãm và Tôn Thất Soạn theo học Khoá AWS Junior Shool ở Quantico/VA, Tr/U Lê Đình Quế thay thế TP3.
-Tháng 7/1962, sau khi về nước H.Lãm thuyên chuyển về TĐ3/TQLC ở Tam Hà Thủ Đức làm Phụ tá cho Đ/U Dương Hạnh Phước TDT.
-Tháng 2/1063, H.Lãm thuyên chuyển về P/3 Bộ TTM và tháng 8/1963 thì được lệnh Biệt Phái về Phủ Đặc Uỷ TUTB và phục vụ cho đến ngày 30 Tháng 4/1975.
-30/4/75 không thoát kịp kẹt lại, tù 17 năm qua các trại từ Nam ra Bắc vào Nam:
-Long Thành
-Thủ Đức
-Nam Hà
-Hoả Lò
-Hà Tây
-Nam Hà (lần thứ 2)
-Hàm Tân ( Z 30 Đ )
Ra tù tháng 2/1992. Qua Mỹ tháng 3/1993 theo diện H0.14, định cư tại TP Rosemead Nam California cho đến nay 2016.
Thật ra thì thời gian ở TQLC vào khỏang 6,7 năm tham mưu nhưng MX. Hoàng Lãm rất yêu thích Binh Chủng, TQLC đã để lại cho H.Lãm những ấn tượng rất sâu sắc và những kỷ niệm với các chiến hữu Cọp Biển thì không bao giờ quên được.
 
TQLC. Tôn Thất Soạn sưu tập.
Iowa City, Iowa 2-2-2016.